Trần Đăng Khoa: Nhớ một thời giáo dục thanh khiết

(VOV)-Những nan giải của giáo dục ngày nay, các thầy cô ở trường quê Nam Sách đã giải quyết ổn thỏa từ những năm 60, 70 của …thế kỷ trước.

Trong Blog tuần trước, tôi cùng với nhà khoa học Trần Thanh Thu bàn về việc dạy và học ở Bỉ. Có bạn đọc bảo: Quả là một Thiên đường Giáo dục. Không biết tới bao giờ, chúng ta mới lên tới đó? Xin thưa, cái Thiên đường đó không xa. Đã có thời, chúng ta cũng đã đi qua ngõ cái Thiên đường ấy rồi đấy. Ngay trong mái trường quê của tôi. Bởi vậy, trước khi bàn tiếp về việc dạy và học ở Bỉ, tôi muốn cùng bạn đọc ngoái lại gần nửa thế kỷ, nhìn lại ngành giáo dục quê nhà, ở một góc rất hẹp. Những năm tháng đẹp nhất của tuổi thơ tôi trôi qua trong mái trường quê đó.

Lớp học ban đêm (Ảnh: http://hoabinh.edu.vn/vn)

Đấy là Trường cấp III Nam Sách, nay là Trường THPT Nam Sách. Trường được thành lập từ năm 1962. Mười năm sau, tôi vinh hạnh được là học sinh của trường. Học sinh lớp 8G.

Tôi còn nhớ mãi buổi khai giảng năm ấy. Đó là 7h sáng ngày 1/9/1972. Khi đó, cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Mỹ bằng không quân, mở rộng ra Miền Bắc đang vào thời điểm khốc liệt nhất. Bom đạn mù mịt suốt ngày đêm. Chỉ ít thời gian sau, Mỹ dùng máy bay chiến lược B52 rải thảm Hà Nội, Hải Phòng. Nam Sách là mảnh đất kiên cường, ở giữa hai thành phố lớn ấy, lại nằm bên Đường 5, con đường huyết mạch nối Thành phố Cảng với Thủ đô Hà Nội. Một trong những trọng điểm hủy diệt của Không quân Mỹ là hai cây cầu Phú Lương và Lai Vu.

Nam Sách thành trận địa sinh tử, quyết liệt bảo vệ hai cây cầu chiến lược ấy. Xã Ái Quốc và nhiều xã lân cận hóa thành “túi bom” của giặc. Chúng tàn phá bất kỳ lúc nào. Mảnh đất hậu phương, cung cấp người và của cho chiến trường Miền Nam “Thóc không thiếu một cân, Quân không thiếu một người”, giờ cũng đã thành một chiến trường khốc liệt.

Trường cấp III Nam Sách xé lẻ ra thành từng lớp, sơ tán về các làng quê. Có lớp học trong Chùa. Có lớp học ở Nhà thờ Thiên chúa giáo.

Lớp 8G của tôi sơ tán về xã Thanh Lâm. Ngày Khai giảng là buổi lao động tát nước ở giao thông hào và đắp lại những căn hầm kèo bị sạt lở sau một trận mưa lớn đêm trước. Thày Chủ nhiệm Vũ Đình Sâm đứng trên nóc hầm điểm danh học sinh và thông báo lịch trình học tập.

Buổi khai giảng đầu tiên của đời tôi khi mới lẫm chẫm bước chân vào lớp Một cũng là một buổi học độc đáo như vậy. Sau giờ khai giảng, học sinh tỏa về từng lớp để thầy trò làm quen với nhau. “Hôm nay, thầy sẽ dạy các em bài học đầu tiên…”. Bài học đầu tiên của chúng tôi đây: “Ngày khai trường”, rồi “Tổ Quốc Việt Nam”. “Tổ Quốc em đẹp lắm - Cong cong hình lưỡi liềm…”. “Không, các em gập sách lại đi. – Thầy bảo - Bài học này chưa kịp có trong sách Giáo khoa đâu…”.

Hồi hộp quá. Không chỉ trò, mà cả thầy cũng hồi hộp. Thầy dạy và rồi chính thầy cũng phải học. Bài học đầu tiên trong đời. Đó là cách tránh bom. Thầy giúp chúng tôi phân biệt từng hướng rơi của bom. Nhìn hình dạng và đường bay của bom mà biết quả bom ấy sẽ lao xuống đâu. Lúc nào thì thì ngồi in, chụp mũ rơm lên đầu. Lúc nào thì phải chạy. Chạy theo hướng nào để có độ an toàn cao nhất. Rồi thầy dạy chúng tôi cách cứu thương và băng bó vết thương, “ để khi không có thầy bên cạnh, các em còn biết cách cứu bạn và tự cứu mình”. Chúng tôi bắt đầu tập băng bó. Một lũ trẻ lau nhau, trứng gà trứng vịt mà làm rất thuần thục. Vừa làm vừa cười đùa như chơi trò trận giả. Chúng tôi cười vui. Nhưng thầy lại khóc. Khóc thầm. Nhưng nước mắt không giấu được, cứ ầng ậng sau hai hàng mi. Và tôi hiểu một điều rất hệ trọng. Chiến tranh không bao giờ là một trò đùa.

Khi tôi thành học sinh trường Cấp III Nam Sách, chiến tranh đã lên đến đỉnh điểm. Bom đạn mù mịt. Có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng đời sống tinh thần lại ấm áp, bình thản. Lạ thế! Một xã hội trong vắt. Không có tham nhũng. Không có kẻ cướp, đĩ điếm, trấn lột. Và đẹp nhất trong bầu khí quyển trong lành ấy là người lính và người thày. Đó là hai chiến sĩ kiên cường trên hai mặt trận: Chống giặc dốt và giặc ngoại xâm.

Chúng tôi cắp sách đến trường, tiếp nhận cùng một lúc hai nguồn kiến thức lớn. Một nguồn từ sách vở. Đó là những bài học, đúc rút kinh nghiệm sống, là trí khôn của cha ông và của cả loài người, thành nguồn sáng trong lành, tinh lọc qua tâm hồn thày cô rồi tỏa xuống mỗi học sinh. Còn nguồn kiến thức thứ hai, cũng rất quan trọng, mảng kiến thức này không nằm trong giáo án, cũng không có trong sách giáo khoa, nhưng lại tác động đến học trò rất mãnh liệt. Đó là cuộc đời các thày cô. Tấm gương các thày cô. Chính các thày cô đã thành giáo cụ trực quan, dạy chúng tôi làm người.

Thầy nào thì  trò ấy. Khi thầy không gương mẫu, không còn là một vẻ đẹp, thì mọi lời giảng, dù có hay đến đâu cũng thành vô nghĩa.

May mắn cho lũ học trò nhà quê chúng tôi trong những năm tháng gian nan, vất vả ấy mà vẫn có được một ngôi trường nề nếp, quy củ. Nhờ chính sách “hạ phóng” của Bộ Giáo dục, nhiều thầy cô ở thành phố lại tỏa về các miền quê và những vùng sâu vùng xa. Trường Cấp III Nam Sách là một ngôi trường quê, học trò đều là con em nông dân ở mấy làng quê nghèo lam lũ, nhưng nhà trường lại có một đội ngũ giáo viên rất giỏi. Nhiều thầy cô người Hà Nội gốc nhưng lại về bám trụ ở đây, như thầy Độ đường Quán Thánh, cô Nga phố Hàn Thuyên, thầy Tuấn phố Quang Trung, thày Bản phố Hàng Bạc, cô Hằng đường Cầu Giấy.

Tôi không sao quên được thày Độ. Thầy dạy toán. Lên bục giảng, thầy không mang giáo án, chỉ ve vảy hai bàn tay không. Nhưng xin bạn đọc chớ hiểu lầm thầy lười nhác hay cẩu thả. Giáo án nằm hết trong đầu thầy. Cả cuốn sách Giáo khoa toán dày cộp cũng ở trong đầu thầy. Thầy chép bài tập lên bảng mà đâu có nhìn sách giáo khoa. Thầy bảo: “Nếu thầy nhớ nhầm, các em nhắc thầy nhé!”.

Nhưng chẳng bao giờ thầy nhầm. Cái tài lớn nhất của thầy mà tôi rất phục là khả năng biến những gì phức tạp thành đơn giản  dễ hiểu. Tôi nghiệm thấy những người giỏi đều thế cả. Họ có khả năng đơn giản hóa những gì phức tạp. Còn người kém thì ngược lại, ngay cả điều đơn giản, qua họ, cũng thành phức tạp, rối mù. Thày Độ giảng rất thoải mái, nhưng học sinh nào cũng hiểu được. Tôi là một học trò cá biệt, rất dốt toán, mà cũng nắm được bài ngay tại lớp. Còn thầy Tuấn lại có một biệt tài khác mà chúng tôi phục lăn. Thầy dựng Hình, chẳng cần com-pa, thước kẻ, mà hình nào cũng đẹp. Có khi thầy vừa giảng, vừa quài tay ra sau lưng, khoanh một nét thành một Đường tròn tâm O, chuẩn đến mức kinh ngạc.

Trong con mắt chúng tôi, các thầy cô như những vị thánh sống. Cao cả và tinh khiết. Hồi đó có chuyện dạy thêm không? Có! Thời nào chả có những học sinh kém. Với những cô cậu học trò cá biệt ấy, sau buổi học, các thầy cô thường mời ở lại để phụ đạo thêm. Thảng hoặc, có học sinh, do hoàn cảnh khó khăn, vào các buổi tối, thầy còn đạp xe đến tận nhà phụ đạo. Thầy dạy mà không lấy tiền. Có thày còn sẻ cả một phần lương đạm bạc của mình cho học trò mua sắm quần áo hay dụng cụ học tập. Ngày Tết, hay ngày 20-11, học sinh ríu rít đến thăm thầy chỉ có hai bàn tay trắng. Phong bì không và hoa cũng không. Ở làng quê khoai lúa, muốn tặng hoa thầy cũng chẳng có để tăng. Nhưng cả thầy và trò đều vui. Một niềm vui chan hòa, ấm cúng và tinh khiết.

Bây giờ chúng ta hay kêu về nền giáo dục xuống cấp trầm trọng với bao nhiêu vấn nạn. Trong đó có cả những vấn nạn thuộc về nghiệp vụ giảng dạy, như nạn “văn mẫu”, nạn “đọc chép”. Thày đọc và trò chép. Nhà trường đã biến học sinh thành những con vẹt. Đó là những phương pháp giáo dục phản giáo dục tệ hại nhất. Những vấn đề nan giải này, các thày cô ở mái trường quê Nam Sách đã giải quyết rất ổn thỏa từ những năm 60, 70 của …thế kỷ trước.

Tôi rất phục cách dạy văn của thầy Vũ Đình Sâm, chủ nhiệm các lớp  8G, 9G, 10G mà tôi theo học. Dù những năm tháng ấy, trong mái trường này, thầy chỉ là một tên tuổi rất khiêm nhường. Khi nhắc đến những giáo viên giỏi, người ta thường nhắc đến thầy Tham, thầy Soa, thầy Hoạch, thầy Độ, thầy Tuấn, cô Nga, cô Hằng, thầy Đức, cô Thanh, cô Thu…

Và còn rất nhiều thầy cô khác nữa. Thầy Sâm thường khuất trong bóng tối. Bản thân thầy cũng tự giấu mình đi. Nhưng trong con mắt của tôi, thầy là một tấm gương sáng, không chỉ với học trò, mà còn với cả ngành giáo dục. Cách dạy của thầy theo tôi là mẫu mực, đáng để Ngành Giáo dục hôm nay tham khảo. Thầy không biến học trò thành con vẹt, cũng không tự biến mình thành Rô-bốt cứng nhắc. Mọi quy chế, hướng dẫn, quy định của ngành chỉ có ý nghĩa tham khảo quan trọng, còn Giáo viên phải có những sáng tạo riêng, nhằm đổi mới mỗi tiết giảng, truyền đạt kiến thức đến học trò một cách hiệu quả nhất, nhưng lại gợi mở cho các em sự độc lập suy nghĩ và sáng tạo.

Trong tiết giảng, thầy không đọc lại đoạn văn trích. Đấy là việc học sinh tự đọc ở  nhà. Thay cho thời gian đọc tác phẩm, thầy tóm tắt cả cuốn sách, để học sinh nắm được nội dung, biết đoạn trích học nằm ở đâu. Thầy biến bài giảng thành buổi Xê-mi-na để học sinh cùng thảo luận. Có buổi học thành cuộc tranh luận rất sôi nổi. Thầy gợi mở, xới lên các vấn đề để học sinh bàn. Rồi thầy tổng kết. Có vấn đề thầy kết luận ngay, có vấn đề thầy bỏ ngỏ, để học sinh nghĩ tiếp.

Trong phần tổng kết, ngoài biểu dương những ý kiến có tính khám phá của học trò, thầy nói ba vấn đề. Một là thầy tóm tắt phần hướng dẫn giảng dạy dành cho giáo viên của Bộ Giáo dục về đoạn văn trích. Hai là thầy tóm tắt ý kiến của các nhà phê bình nghiên cứu về tác phẩm đã được in trên các báo và tạp chí từ trước đến nay, đặc biệt là những kiến giải xuất sắc có tính phát hiện. Phần thứ ba, là ý kiến riêng của thầy. Tôi thích phần thứ ba này nhất. Bởi đó là những ý kiến tôi không tìm thấy ở bất cứ tài liệu nào trên sách báo. Như vậy, một bài học, được chiếu rọi từ nhiều góc độ khác nhau. Một giờ lên lớp của thầy, bằng học sinh lục lọi hàng tháng trong thư viện với hàng đống sách vở.

Bây giờ, trong các thầy cô dạy phổ thông, có  ai làm được như thầy không?

Thầy nào trò  nấy. Thầy phải giỏi thì trò mới có thể giỏi được. Nhờ có một đội ngũ thầy giỏi như thế, mà trường có được một đội ngũ học sinh làm rạng danh trang sử nhà trường. Có người rất nổi tiếng, được thế giới biết đến, như nhà địa chất Tạ Phương, người được mang tên cho một loại quặng quý trong một cuốn sách khoa học về địa chất ở nước Nga. Rồi những tên tuổi được cả nước biết đến như anh hùng quân đội Vũ Ngọc Diệu, anh hùng Liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ, Phó Giáo sư Tiến sĩ Trịnh Bá Đính, nhà báo Trịnh Bá Ninh, rồi các nhà quản lý Hoàng Bình, Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Thị Dung, các nhà kinh tế Vũ Văn An, Nguyễn Hữu Thắng…Và còn rất nhiều các anh các chị khác nữa.

Tôi muốn nói thêm đôi điều về hai học sinh của trường, anh hùng quân đội Vũ Ngọc Diệu và anh hùng Liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ. Cả hai anh đều lên đường nhập ngũ khi còn đang học phổ thông. Trong trận “Điện Biên phủ trên không”, với 12 ngày đêm đánh B52 ở Hà Nội năm 1972, Vũ Ngọc Diệu là lính ra đa bảo vệ Hà Nội. B52 là vũ khí chiến lược của Mỹ, là sức mạnh tàn bạo của không lực Hoa kỳ. B52 có nhiều máy bay phản lực yểm trợ, bảo vệ, lại bay ở tầm cao, lại có hệ thống phá sóng ra đa, tung nhiễu mù mịt nên rất khó phát hiện. Kỳ tích của Vũ Ngọc Diệu cùng các cộng sự của anh là sự mày mò nghiên cứu, phát hiện chính xác B52. Sau nhiều lần tác nghiệp, anh nhận ra rằng, khi B52 cắt bom, và chỉ khi chúng cắt bom, trên màn huỳnh quang ra đa xuất hiện những điểm lóe bất ngờ giữa vô vàn những đốm sáng của những mục tiêu giả. Nhờ thế, chúng ta tiêu diệt được B52. Có ngày rụng đến cả chục chiếc.

Còn Đỗ Chu Bỉ cùng thế hệ tôi. Chúng tôi nhập ngũ khi còn học dang dở. Tổ Quốc gọi và chúng tôi ra đi. Con trai đi. Con gái cũng đi. Sau Tổng động viên, trường vắng hẳn. Phải nhiều lớp gom lại mới đủ sĩ số một lớp. Trong bài thơ gửi em gái mình, khi ở chiến trường Tây Nam, nghe tin em vào Đại học Sư phạm, tôi viết: Hôm nay em đến Giảng đường/ Anh hằng khao khát/ Thế  hệ anh, mấy lớp người đi cứu nước/ Có  bao anh chưa tới được lớp mười/ Có  bao anh nằm lại dọc đường rồi/ Những con suối không tên. Những ngọn đồi không tuổi/ Có  thể sau này, em dẫn học trò tới/ Chỉ thấy im lìm rừng xanh với núi xanh…/ Ước mong sao ngày đất nước yên lành/ Anh lại trở về, cùng em, vui chơi như thuở nhỏ/ Trên góc sân nhà, em là cô giáo nhé/ Anh làm chú học trò. Và bài học đầu tiên…

 Thật bất ngờ khi Đỗ Chu Bỉ cũng nghĩ như tôi nghĩ trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời mình về một thế hệ học trò chúng tôi. Anh là người lính dũng cảm, đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng bảo vệ từng tấc đất biên cương Phía Bắc Tổ Quốc. Hết đạn thì dùng dao găm và lưỡi lê. Một cuộc chiến đấu không cân sức. Mình anh đẩy lùi nhiều cuộc tấn công của địch.

Khi đồng đội tìm đến chi viện, anh đã hy sinh. Trên người anh là mười chín vết dao và vết đạn bắn. Trong túi áo ngực đẫm máu là bức thư anh viết dở cho mẹ: “Mẹ ơi, con không thể chết được đâu, dù kẻ thù tàn bạo đến thế nào. Bởi con còn có mẹ. Mẹ mỗi ngày một già yếu, ai sẽ chăm sóc mẹ nếu không phải là con?  Mẹ hãy tha tội cho thằng con trai bất hiếu này. Mẹ ơi, rồi con sẽ trở về nếu biên giới im tiếng súng. Con sẽ trở về cho tuổi già mẹ không còn hưu hắt. Rồi con sẽ tiếp tục trở về ngôi trường thân yêu của con. Con sẽ tiếp tục học để mẹ không phải xấu hổ vì có một thằng con thất học. Mẹ ơi, con sẽ về. Không kẻ thù nào giết nổi con đâu…”

Cũng như 217 liệt sĩ, những học sinh ưu tú nhất của trường, Đỗ Chu Bỉ không còn trở về. Anh đã nằm lại trên điểm chốt Bình Liêu. Nhưng các em của anh, những học sinh thế hệ sau anh đã quyên góp tổ chức tạc tượng anh, rồi đưa anh trở về ngôi trường thân yêu mà anh hằng khao khát được học tiếp. Bức tượng ấy hiện đang nằm trong Phòng Truyền thống của nhà trường.

Và như thế, có một Trường Cấp III - Trường Trung học Phổ thông Nam Sách bám trụ ở quê nhà, thành một địa chỉ văn hóa, một di tích lịch sử thiêng liêng với rất nhiều thế hệ. Lại còn có những trường cấp III – Trường Trung học Phổ thông Nam sách ở những miền xa. Đấy là các thế hệ học sinh của trường, trong suốt nửa thế kỷ qua, đã mang theo hình bóng thày cô, vóc dáng mái trường đến mọi miền Tổ Quốc, và làm nên những chiến công mới, những kỳ tích mới. Đó cũng là những vẻ đẹp của trường mà đâu phải ai cũng nhận ra…./.

Trần Đăng Khoa/VOV

 

Danh sách ý kiến

Sắp xếp theo:
  • tucafe
    lần nào đọc văn của Khoa,tôi cũng rơm rớm ở mắt.lòng đẹp thì văn cũng đẹp.viết về thầy cô mà như viết cổ tích vậy. cổ tích đời thường.
  • haksa
    Trần Đăng Khoa quả là thần đồng, và mãi vẫn là thần đồng, viết bài nào cũng hay, bài nào cũng sâu sắc cứ như là nói hộ chuyện của biết bao người vậy
  • Nguyễn Lộc
    Cám ơn chú rất nhiều vì bài viết. Bài viết của chú đã làm cháu rất xúc động, những tấm gương dạy và học, trong thời kỳ khó khăn như thế, hoàn cảnh ác liệt như thế, mà vẫn hăng say, vẫn miệt mài. Và khi đọc đến tấm gương hi sinh của chú Vũ Ngọc Diệu, chú Vũ Chu Bỉ, thật sự cháu rất xúc động, không chỉ bởi hi sinh cao cả của các chú ấy, mà hơn nữa là tinh thần của một thế hệ đi trước, rời xa chiếc ghế nhà trường đi lên tiền tuyến, nhưng vẫn mang trong lòng một ước mơ học tập... Viết đến đây mắt cháu nhòa đi rồi, chỉ xin cảm ơn chú một lần nữa.
  • Thanh Vũ
    Nhớ lại quá khứ bao giờ cũng đẹp. Nhưng không nên tuyệt đối hóa quá khứ bạn Khoa ạ.Tôi học 3 năm cấp 3 ở Trường phổ thông cấp 3 Duy Tiên(lúc đó thuộc tỉnh Nam Hà. Tôi dược biêt đến thơ Trần Đăng Khoa nhờ người thây tận tụy của chúng tôi,thầy Song,nguyên học sinh khóa đâu của trường,cũng là người Duy Tiên. Trường chúng tôi có nhiều thây dạy giỏi,như thầy Khâm dạy Toán,thầy Truyền dạy Lý...và các thầy đều là người địa phương cả.Cho nên tôi không đòng ý lấm với ý kiến của Khoa về thầy cô Hà Nội "có vẻ" giỏi hơn ...Năm tôi học lớp 7 ở trường cấp 2 Tiên Nội,có thây Sinh dạy Toán giỏi,thây Vũ Hữu Dụngdạy Văn hay( sau thầy Dụng vào Quảng Ngãi dạy học ở quê vợ(cô Noa)trước khi nghỉ hưu là Phó Giám đốc Sở GD ) có kiến thức rất uyên bác,đọc rộng,nhớ nhiều...Theo tôi thời ấy,cái gốc làm nên sự nghiệp vĩ đại của ngành giáo dục chính là ở chỗ chúng ta duy trì được một"xã hội học tập" nên chênh lệch về"sự học" không quá cao giữa các vùng miền,bản thân các thầy cô giáo ở nông thôn cũng có điều kiên cập nhât,nâng cao kiến thức. Áp lực thi cử có nhưng việc dạy chữ đi liền với cả xã hội tham gia"dạy người"nên mới đào tạo ra được nhiều thế hệ thanh niên sống xứng đáng với công ơn dạy dỗ,nuôi dưỡng của xã hôi,gia đinh.
    Trường cấp 3 Duy Tiên có những học sinh giỏi,như Tiến sĩ KH Trần Chủng,nhiều người làm đến Bí thư,phó bí thư tỉnh ủy,giám đốc Sở,Hiệu trưởng,thứ trưởng...có một học sinh hiện là Thượng tướng,Bí thư TƯ Đảng...Nói dài như vậy tôi chỉ muốn thêm vào ý kiến của bạn Khoa,và không muốn"tuyệt đối hóa" một việc gì
  • Nguyên
    Tôi cũng tấm tuổi anh và cùng sống những năm tháng ấy. Khi đó không tinh khiết sao được vì phong bì dùng để người hậu phương gửi thư cho người tiền tuyến. Còn bây giờ phong bì ít khi (thậm chí không còn khi nào nữa) dùng để gửi thư mà chỉ để gửi "quà". Thật buồn.
  • tran gia thoai
    cả nước nước kỳ vọng ở ông khoa ra những tác phâm văn học vừa và lớn nhưng ỉt thấy.chỉ viết báo chóc cười.bàn về xã hội rông lớn.bài viết ngắn không thấu dáo.
  • Nguyễn văn Tính
    Anh Khoa thân mến, không biết Anh suy nghĩ gì khi viết bài này ,nhưng cá nhân Tôi khi đọc bài viết của Anh Tôi đã rơi nước mắt. Tôi nhớ về những năm tháng đã qua đi, nhớ về thủa ngày xưa còn cắp sách đến trường,,,,, bao nhiêu kí ức , biết bao kỷ niệm từ từ hiện về. Anh đã nói rất đúng ,thời của chúng ta, bất luận là học sinh thành phố đi sơ tán hoặc các bạn học ở thôn quê chúng ta đều rất biết yêu thương nhau. Chúng ta được giáo dục, nuôi lớn từ những mái trường ngày ấy, với sự dạy dỗ ấy. Chúng ta vẫn đã trưởng thành tốt đẹp , biết bao bạn học của chúng ta đã không tính toán hoặc nuối tiếc gì, quên đi tuổi thanh xuân của mình để hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc... Chúng ta hãy nhìn lại điều kiện học của các cháu hiện nay, sau đó xem đén kết quả học tập cũng như tư tưởng của các cháu ra sao? Tôi chợt nghĩ , nếu chúng ta cứ tiếp tục đào tạo các Con Em chúng ta như thế này, thì mai mốt các cháu sẽ thế nào ? Có còn yêu nước, có còn có trách nhiệm với Tổ quốc như chúng ta không ? Câu trả lời này Tôi nghĩ là các vị có chức, có quyền trong nghành giáo dục lên sớm trả lời.
  • Trịnh Xuân Trường
    Tôi là một giáo viên của trường THPT Nam Sách, vừa được sống trong không khí ấm áp nghĩa tình của ngày kỉ niệm 50 năm thành lập trường, đọc bài viết của anh Khoa tôi rất xúc động. Trường tôi, một mái trường quê khiêm nhường, giản dị, 50 năm qua đã thầm lặng cống hiến cho đất nước nhiều người con ưu tú như các anh Đỗ Chu Bỉ, Vũ Ngọc Diệu, Trần Đăng Khoa…và biết bao người công dân vô danh đang ngày đêm chiến đấu, lao động để bảo vệ và dựng xây đất nước. Tên tuổi của nhà trường được tạo dựng bởi công sức của lớp lớp cán bộ, giáo viên và học sinh bao năm qua. Chúng tôi – thế hệ sau – sẽ nỗ lực hết mình để xứng đáng với những người đi trước.
    Qua VOV xin gửi lời chào tới chị Vũ Thị Thắm! Chúng tôi rất trân trọng những tình cảm của chị dành cho liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ, cho nhà trường và quê hương Nam Sách. Mời chị khi nào có điều kiện thuận lợi tới thăm trường, thăm quê hương anh Đỗ Chu Bỉ. Chúng tôi rất vui mừng được đón tiếp chị!
  • Đào Tuyết Thành
    Xin chân thành cảm ơn VOV và Nhà thơ đã đăng một bài viết sâu sắc về vấn đề giáo dục của nước nhà.
    Lứa tuổi chúng ta đã học và dạy học có thể nói khác nhiều bây giờ, bởi mọi thứ đều thiếu thốn và gian khó. NHƯNG HỌC THÌ VẪN RA TRÒ VÀ THẦY THÌ RẤT
    TÂM HUYẾT .
    Nhân dịp năm mới, tôi xin phép qua VOV được gửi tặng nhà thơ và bạn đọc, một bài thơ cũng viết về những năm còn ngồi trên ghế nhà trường, thay lời cảm nhận :

    Hồi ức về trường Đan Phượng
    Kính tặng các Thầy Cô và các bạn


    Mùa thu qua mùa thu lại tới
    Thấm thoắt trôi ba sáu năm trường
    Mặt hồ sóng ánh ánh dương
    Cây đa ngả bóng sân trường rợp im

    Tưởng thời gian đã nhận chìm ký ức
    Mà không gian thao thức vẫn hiện về
    Bởi sơ khai trường chưa có tên đề
    Lớp tạm gọi “ 5 nhô “ là thế đó !

    Bọn chúng tôi, người cao to, người bé nhỏ
    Bác đàn anh và lũ đàn em
    Chênh nhau hàng chục tuổi vẫn bon chen
    Ngồi chung lớp, học chung bài giáo án


    Thầy Năng Hóa dạy về Lý – Toán
    Thầy Kỷ già chuyên dạy Sử và Văn
    Gọi tên trò, cả lớp bỗng cười lăn
    Hoàng Văn Thỏ em nào thế nhỉ?

    Thời bấy giờ chưa quen ghi nhật ký
    Nên chúng tôi, nhiều chuyện đã quên rồi
    Nhưng xa xăm, vang bóng một thời
    Vẫn khắc họa trong tim từng nét một

    Theo thời gian kỷ niệm càng rũa gọt
    Đẹp vô song như tác phẩm tạo hình
    “ Tự hào thay thế hệ chúng mình
    Học như thế mới là học chứ ?”

    A Le Colle… tiếng Tây vài chữ
    X,Y , đáp số ?... cãi nhau hoài
    Ngồi chung bàn chẳng ai dám hỏi ai
    Người cùng xóm không bao giờ học nhóm


    Ngọn đèn dầu lập lòe như đom đóm
    Vách tường in những mảng tối mờ mờ
    Lầm rầm vẳng tiếng đọc thơ
    Leng keng đổ nhịp đồng hồ báo chuông

    Từ tinh mơ trĩu nặng trời sương
    Những cái bóng rập rình trên bờ cỏ
    Chiều lạnh về mặt trời đã đỏ
    Tiếng i ời vang giữa hương đồng

    Có những chiều trời đổ cơn giông
    Thân đành ướt áo quần đem bọc sách
    Tiếng sét lớn tưởng màng tai bị rách
    Cành cây rơi suýt trúng chân mình

    Tuổi học trò ai chả nghịch tinh
    Đem chuột nhắt để trong bàn thầy giáo
    Trọ nhà dân gùi cơm, gùi gạo
    Cũng thương dân như bộ đội Cụ Hồ


    Ôi ! Biết bao người bạn lớp 5 nhô
    Nói sao hết những điều hay như thế
    Hãy để hơn năm mươi người cùng kể
    Cho những em ngồi tiếp ghế bàn xưa
    .
    Các anh ơi! Đã thấy khác nhiều chưa
    Trên mảnh đất bốt đồn Tây nham nhở
    Đã xây nên từng dãy dài ngói đỏ
    Đã xum xuê hàng cổ thụ sân trường

    Lòng chúng mình ai chẳng vấn vương
    Mỗi buổi sớm đón chào đàn em nhỏ
    Gió tung bay dập dìu khăn quàng đỏ
    Nắng lung linh rạng rỡ hừng đông

    Các em ơi có thấy vui không ?
    Trường chúng ta trưởng thành nhanh như vậy
    Mỗi em giờ cũng đang ngồi đấy
    Như chúng tôi rồi sẽ lại lên đường


    Đến mọi miền, ở khắp bốn phương
    Và đi suốt chiều dài đất nước
    Từng cầm súng diệt quân xâm lược
    Có những anh mãi mãi không về

    Có bao người gắn bó với đồng quê
    Cho năng suất năm, mười tấn lúa
    Có kỹ sư khai thác than, dầu lửa
    Có nghệ nhân thêu thảm len màu

    Có một điều chúng tôi rất giống nhau
    Bầu nhiệt huyết, tính cần cù sáng tạo
    Chẳng phải chúng tôi vẫn thường bảo
    “ Tự hào thay ! Thế hệ chúng mình !... “

    Có một nghề quang vinh nhất quang vinh
    Lớp chúng tôi lại chiếm nhiều hơn cả
    Đó là nghề của Thầy Kỷ, Thầy Hóa
    Là giáo viên, đồng nghiệp của Thầy

    Và chúng tôi lại trở về đây
    Với mái ấm của trường Đan Phượng
    Lại dạy dỗ lớp con em đang khôn lớn
    Từ lớp ‘ 5 nhô “ nay đã có lớp 10

    Mỗi năm học thêm nhiều gương mặt mới
    Chẳng khác xưa ánh mắt, nụ cười
    Cũng tinh nghịch và mơ mộng, yêu đời
    Nhưng cũng học “ ra trò “ đấy nhỉ?

    Các em ơi ! Nghe lời anh nhắn nhủ
    Đường em đi giờ nhẹ bánh xe bon
    Hãy chắp thêm đôi cánh của tâm hồn
    Luôn trong sáng bởi gương thầy chiếu rọi

    Hãy học giỏi và rèn luyện giỏi
    Mỗi bước đi đầy sức sống thanh xuân
    Thu qua hè lại đến gần
    Mái trường Đan Phượng trong ngần tiếng ca
  • Tuyết 1948
    Cảm ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa về bài viết.

    Một cảm giác trân trọng ,kính yêu,tự hào về tấm gương của các thày ,cô ,của bao thế hệ đồng nghiệp
    Những người lái đò trên dòng sông kiến thức không quản sóng to gió lớn, cả bom đạn của kẻ thù ,vẫn vững tay chèo lái đưa lớp lớp các thế hệ học trò đến bờ bến vinh quang trong đó có tôi,có em và bao người rời ghế nhà trường vân tay còn in dấu mực,có người không trở lại và cũng thật buồn khi ta ngoảnh lại trên nét mặt bạn bè xưa(nhìn trong ảnh)ai cũng tươi trẻ vô tư và hôm nay (ngoài đời) vẫn bạn ta đó chung thày chung lớp mà không sao nhận ra nổi vì hình hài vẫn thế mà sao lại lạnh lùng đến vô cảm
    Vẫn phấn trắng bảng đen mà sao tiếng gọi thày cô không trìu mến thân thương nữa
    Qua trang viết của nhà thơ Trần Đăng Khoa xin được tri ân đến các thày cô đã tận tụy dạy giỗ chúng em ,xin gửi lời thăm hỏi đến tất cả đồng nghiệp xa gần trên mọi miền đất nước Chúc các thế hệ học trò luôn học giỏi ,chăm ngoan,góp công sức xây dựng và bảo vệ đất nước mình :đau thương nhưng quật cường và anh dũng