Trong các bài trước của loạt bài “Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa nhìn từ công pháp quốc tế”, chúng tôi đã đưa ra các bằng chứng rõ ràng rằng, ít nhất từ thế kỷ XVII cho đến hết thời kỳ thuộc địa, Việt Nam đã chiếm hữu, quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục, hòa bình và phù hợp với các quy định luật pháp quốc tế.
Vấn đề còn lại là sự tiếp nối danh nghĩa chủ quyền đối với hai quần đảo này ở thời kỳ sau giai đoạn thuộc địa đến nay. Đặc biệt khi phía Trung Quốc lập luận rằng, với tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1958, Việt Nam đã từ bỏ quyền của mình đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự thật của vấn đề này như thế nào? Luật pháp quốc tế có thể rút ra từ đó kết luận gì về quan điểm liên tục của danh nghĩa pháp lý?
 |
| Sách “Trung Quốc Địa lý học giáo khoa thư”, phát hành năm 1906 nêu ở trang 241 rằng: “điểm cực Nam của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu đảo Quỳnh Châu, ở vĩ tuyến 18 độ 13’ Bắc.” |
Trong bài diễn văn của Chu Ân Lai năm 1951, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đề cập về chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, cần phải khẳng định ngay rằng, đối với Trường Sa, Trung Quốc không hề dựa trên bất kỳ một sự chiếm đóng hay quản lý thực sự nào trước đó. Còn đối với Hoàng Sa, nước này đã chiếm đóng thực tế trên một bộ phận vào năm 1956 và được mở rộng ra toàn bộ quần đảo vào năm 1974. Nhưng cũng cần khẳng định ngay rằng, đây là một cuộc chiếm đóng quân sự không được luật pháp quốc tế thừa nhận vì có một nước khác đã có danh nghĩa chủ quyền trước đó. Trong khi đó, đại diện của nước Việt Nam sau khi người Pháp ra đi, Chính phủ Nam Việt Nam luôn khẳng định duy trì chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với nhiều Nghị định về quản lý các đảo. Một Nghị định về quần đào Hoàng Sa được ký ngày 13/7/1961 thành lập đơn vị hành chính Định Hải, một Nghị định khác ngày 21/10/1969 gộp xã đó với xã Hoa Long,vv…
Có ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo.
Ngày 16-6-1956, khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Đài Loan và Cộng hoà Philippines đều nhận quần đảo Trường Sa, là của họ, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó.
Ngày 20-4-1971, Chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, đáp lại đòi hỏi về chủ quyền của Malaysia đối với một số đảo trong quần đảo đó,vv…
Tuy nhiên, tháng Giêng năm 1974, các lực lượng vũ trang Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa. Cần nhắc lại là, Luật quốc tế hiện đại (Hiến chương Liên hợp quốc, điều 2, khoản 4) cấm dùng vũ lực để chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Vì thế, một sự chiếm đóng quân sự sẽ không bao giờ và bằng bất kỳ cách nào có thể chuyển thành một danh nghĩa có giá trị và được công nhận.
Mặt khác, khi đó, Chính phủ Nam Việt Nam cũng đã đưa ra lời phản đối lên Liên hợp quốc, công bố sách trắng về các quần đảo và lên án mạnh mẽ chống lại các hành động bất hợp pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Chính quyền Sài Gòn đã sử dụng diễn đàn tại khóa hợp thứ hai của Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển tại Caracas năm 1974 để khẳng định lại các quyền của mình đối với hai quần đảo này.
Việc phân chia lãnh thổ ở vĩ tuyến 17o đã đặt hai quần đảo vào lãnh thổ Nam Việt Nam. Như vậy, chính quyền Nam Việt Nam và chỉ chính quyền này được phát biểu về vấn đề các đảo. Họ đã làm việc này với tư cách là người thừa kế các quyền của nước Pháp về hai quần đảo.
Tuy nhiên, Trung Quốc lại lập luận rằng đã có sự từ bỏ danh nghĩa chủ quyền từ phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Đó là tuyên bố của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ công hòa, ông Phạm Văn Đồng ngày 14 tháng 9 năm 1958.
Công hàm của ông Phạm Văn Đồng nói như sau: “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lí rõ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành lời tuyên bố ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định đó và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”
Có thể thấy rằng, tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ có một nghĩa hẹp là công nhận bề rộng lãnh hải của Trung Quốc. Do vậy, thật không đúng khi lập luận rằng, Việt Nam đã “khẳng định lại sự công nhận của họ đối với yêu sách của Trung Quốc” đối với các quần đảo.
Mặt khác, bà Monique Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học chính trị ở Trường Đại học Paris VII Denis Diderot, nguyên Chủ tịch Hội luật gia dân chủ Pháp, nguyên Chủ tịch Hội luật gia châu cho rằng, đó không phải là chính phủ về mặt lãnh thổ có thẩm quyền đối với các quần đảo. Vì Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa chỉ thực hiện thẩm quyền của mình ở phía Bắc vĩ tuyến 170. Người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không có quyền lực!
 |
| Ông Đinh Kim Phúc, giảng viên khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP.HCM |
Còn ông Đinh Kim Phúc, giảng viên khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP.HCM phân tích: “Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cũng như Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay chưa bao giờ lên tiếng phủ nhận hoặc ra Nghị quyết từ bỏ chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.”
Đối với quần đảo Trường Sa, sau tháng 4/1975, quân đội nhân dân Việt Nam thay thế các đội quân của chính quyền Sài Gòn trên các đảo.
Tuy nhiên, tháng 3/1988, Trung Quốc đưa quân đội đến một số bãi ở Trường Sa: một cuộc đụng độ hải quân dẫn đến việc mất một số tàu Việt Nam và một số thủy thủ Việt Nam bị thiệt mạng. Và từ ngày đó, Hải quân Trung Quốc có mặt tại quần đảo này.
Luật quốc tế hiện đại ngăn cấm rất nghiêm ngặt việc chiếm đóng các lãnh thổ bằng vũ lực. Hơn nữa, Việt Nam đã tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với toàn bộ hai quần đảo. Yêu sách này là sự liên tục các quyền của Nhà nước phong kiến Việt Nam từ xa xưa, sau đó là của Pháp thay mặt cho nước Việt Nam thuộc địa và đã có sự chiếm đóng thật sự hai quần đảo. Liên tục từ đó đến nay, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.
Thực tế cho thấy, Trung Quốc chưa khi nào cai quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, càng không thể nói rằng Trung Quốc đã thực hiện "chủ quyền" một cách thật sự, liên tục và hoà bình. Vì vậy, chủ quyền của Trung Quốc là vấn đề mà cho đến nay nước này vẫn chưa thể chứng minh được.
Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thực sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất từ thế kỷ XVII và từ đó đã thực hiện thật sự, liên tục và hoà bình chủ quyền đó.