Cập nhật lúc : 2:16 PM, 14/11/2008

Cảnh báo bệnh “kinh tế phong trào”

Bài I: Phát triển ồ ạt và hệ lụy dân sinh, môi trường

(VOV) - Theo thời giá năm 2007, mỗi ha cao su có thể cho lãi 100 triệu đồng, điều đó lý giải vì sao phong trào trồng cao su còn phát triển nóng hơn cả cơn sốt cà phê những năm 1995 - 1998

Hiện nay ở khu vực Tây Nguyên, phong trào trồng cao su đang lan nhanh như một cơn sốt. Từ những dự báo lạc quan về triển vọng của thị trường cao su thiên nhiên thế giới và khả năng phát triển loại cây này, Chính phủ đã đồng ý cho các tỉnh Tây Nguyên thực hiện kế hoạch phát triển 100.000 ha cao su từ năm 2006 đến 2010. Nông dân, chính quyền, các nhà doanh nghiệp, tất thảy đang dành ưu ái đặc biệt cho cây cao su.

Tuy vậy, đã có những dấu hiệu cho thấy chương trình phát triển cao su ở Tây Nguyên đang nhiễm “bệnh” làm kinh tế theo kiểu phong trào. Nếu không tỉnh táo có biện pháp điều chỉnh kịp thời thì chương trình này có thể đi đến thất bại và gây ra những hậu quả khó lường.

Đốt cháy giai đoạn

Nổi bật trong việc triển khai ồ ạt trồng cao su ở Tây Nguyên là tỉnh Gia Lai. Chỉ trong 3 tháng giữa năm 2008, tỉnh đã phá trắng gần 10.000 ha rừng để trồng cao su, kết thúc vụ xuống giống đã có hơn 6.400 ha cao su được trồng mới. Hầu hết mọi quy trình cần thiết khi triển khai một dự án đã bị tỉnh Gia Lai bỏ qua. Cho doanh nghiệp khai hoang trước, phối hợp với chính quyền cơ sở sau; chặt rừng trước, kiểm kê gỗ sau; khai hoang trước, khảo sát đất sau!.

Một chương trình lớn, có tác động nhiều mặt về kinh tế, xã hội và môi trường như vậy nhưng ngay cả Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai cũng không được thông tin đầy đủ để thực hiện chức năng giám sát. Thậm chí Nghị định 21 NĐ/CP-2008 ban hành ngày 28/2/2008, quy định các Dự án xây dựng vùng trồng cây công nghiệp tập trung có diện tích từ 100 ha trở lên phải lập báo cáo tác động môi trường, nhưng tỉnh Gia Lai cũng không tuân thủ, dù diện tích rừng bị đốn hạ lên đến 10.000 ha.

Lý do việc không lập báo cáo, theo ông Đinh Ngờ, Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh Gia Lai: “Về đánh giá tác động môi trường thì khi ông Cao Đức Phát vô đây, nói là không cần. Theo Nghị định 21 NĐ/CP (Ban hành ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường) là phải đánh giá tác động môi trường ở từng khu vực hoặc từng diện tích, từng xã một. Nhưng để đỡ tốn kém sẽ chỉ đánh giá ở khu vực thôi”.

Với cách làm vội vã, đốt cháy giai đoạn như vậy, vô số hệ lụy đã nảy sinh: Doanh nghiệp không được giám sát, đã khai hoang phá lấn cả rừng phòng hộ, rừng ven suối, thậm chí lấp cả suối. Tai hại hơn, với cách làm này, hàng nghìn ha rừng đã bị chặt oan, vì đất đó không phù hợp với cây cao su. Thạc sĩ Trần Minh, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật Tây Nguyên - một cơ sở của Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam tại Gia Lai, cho biết: “Chúng tôi hiện cũng đang đi khảo sát đất cho một số đơn vị như Công ty Hoàng Anh Gia Lai, công ty Hoàng Anh Mang Yang… Ở các vùng giáp với Đắk Lắk, có nhiều khu không trồng được cao su. Phần lớn những diện tích đó đất đá rất nhiều. Tỷ lệ diện tích đưa vào sử dụng trồng cao su được chỉ khoảng hơn 50%”.

Việc mở rộng diện tích trồng cao su ở các tỉnh Tây Nguyên tuy quy mô khác nhau, nhưng đều giống nhau về tính chất vội vã. Tại Ea Súp - huyện có đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt nhất tỉnh Đắk Lắk, nơi mà mùa khô thì thành chảo lửa, mùa mưa lại là rốn lũ, phong trào trồng cao su cũng nóng lên từng ngày. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2008, đã có 33 dự án trồng cao su xin đầu tư tại đây. Hàng trăm hộ dân từ Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh… cũng tìm đến Đắk Lắk với hy vọng biến những vùng rừng, rẫy cằn cỗi ở đây thành những đồn điền cao su hái ra tiền. Tình trạng đua nhau tìm đất trồng cao su khiến giá đất ở Ea Súp tăng từng ngày. Những thửa đất xưa nay chỉ trồng lúa rẫy một vụ, 3 năm trước, giá chỉ khoảng 15 triệu /1 ha thì nay đã tăng lên 4 - 5 lần. Ông Dương Văn Phúc, một nông dân từ tỉnh Bình Dương, tới xã Chư M’Lan, huyện Ea Súp để trồng cao su, cho biết: “Nếu như một hai ha không giấy tờ có giá một hai chục triệu; còn nếu có trích lục thì 50 triệu. Còn nếu có sổ đỏ thì giá khoảng 70 - 80 triệu. Nhưng mà phải nhiều. Nếu như có khoảng 30 ha thì giá 70 triệu người ta cũng mua liền, còn nếu chỉ có 1 - 2 ha thì 20 triệu người ta cũng không mua”.

Theo ông Phúc, nhu cầu mua đất trồng cao su gần như vô tận. Nếu việc mua bán được thông thoáng thì đất nông nghiệp ở Chư M’ Lan đã được mua sạch. Hiện tại, dù vấp phải những biện pháp cấm đoán của chính quyền địa phương, nhưng diện tích được sang nhượng và tiến hành trồng cao su cũng đã lên đến gần 500 ha. Ông Phúc cũng tranh thủ mua được 15 ha.

Dồn dân đi đâu?

Điều đáng ngạc nhiên là trong khi cơ quản quản lý nông nghiệp và các nhà khoa học tại Đắk Lắk lo ngay ngáy trước khả năng thất bại của các dự án cao su vì điều kiện thổ nhưỡng không phù hợp, thì người trồng cao su lại không hề bận tâm. Gần vườn cao su của ông Dương Văn Phúc là vườn của anh Phan Văn Bạch, cũng đến từ tỉnh Bình Dương. Anh Bạch đã dốc gần hết gia sản để đầu tư trồng 12 ha cao su tại Ea Súp, đem theo cả vợ con để chăm lo cho vườn cao su này. Cả anh Bạch, ông Phúc đều giống nhau ở chỗ là sẵn sàng trồng cao su, bất chấp rủi ro: “Chúng tôi không sợ mạo hiểm. Nếu Nhà nước thu mua thì chúng tôi cạo hai bên mủ luôn; còn nếu Nhà nước không thu mua thì chúng tôi để không, sau này bán gỗ”- ông Phúc nói.

Sức hút của cao su đang làm cả doanh nghiệp, nông dân và chính quyền các tỉnh Tây Nguyên say sưa. Vì cây cao su, lợi ích chính đáng của người dân thậm chí đã bị xâm phạm. Đây chính là câu chuyện xảy ra tại thôn Cồn Dầu, xã Ea Pô, huyện Chư Dút, tỉnh Đắk Nông. Thôn Cồn Dầu là một vùng có thổ nhưỡng phức tạp, nơi thì dày đặc đá, nơi lại trũng, chỉ có thể khai hoang để trồng lúa nước, không phải là đất hứa cho cây cao su. Thế nhưng, ngày 27/10/2005, UBND tỉnh Đắk Nông ra quyết định giao 1.442 ha đất ở xã Ea Pô cho Công ty TNHH Vĩnh An (TP HCM) trồng cao su. Diện tích này bao gồm hơn 900 ha rừng nghèo và gần 500 ha đất sản xuất và đất ở của bà con thôn Cồn Dầu. Ngay khi có quyết định, cao su lập tức được trồng xuống, người dân bị ép vào thế buộc phải trở thành người làm thuê với cái lý: Làm công nhân cho Công ty cao su sẽ có đời sống ổn định hơn (!?).

Vì không ai nghe theo nên tỉnh Đắk Nông liền nghĩ ra cái gọi là “Dự án ổn định dân di cư tự do”. Người dân thôn Cồn Dầu bị ép phải rời bỏ nhà cửa để chuyển vào vùng dự án này. Tuy nhiên, không kham nổi điều kiện sống trong vùng dự án của huyện, nhiều hộ lại chuyển về nơi ở cũ dựng lều sống tạm. Anh Lương Văn Dự, người dân thôn Cồn Dầu cho biết: “Khu đang ở hiện nay vẫn hơn hẳn khu tái định cư. Khu đó chỉ là một bãi đất hoang ủi ra thành từng lô; nhất là ra đó kinh tế không thể phát triển, không có đất sản xuất, chỉ có 400 m2 đất ở, trong khi khu chúng tôi đang ở thì nhà nào ít nhất cũng có 2 ha. Thôn chúng tôi có trường học, nhưng chỉ học được 1 năm 2005, đến 2006 khi bắt đầu dự án trồng cao su, xã đã không cho giáo viên vào dạy, trường học bị bỏ hoang. Còn khoảng 2 km nữa là có đường cấp phối đến thôn, tại sao người ta không làm đường, mà lại bắt dân di cư ra ngoài đó, khu vực thấp kém hơn nơi dân đang sống bây giờ?”

Ở đây, sự  ngụy biện của huyện Chư Dút và tỉnh Đắk Nông được thể hiện rất rõ ràng: Trong quyết định thu hồi đất chỉ nêu có gần 500 ha đất nương rẫy, nhưng trên thực tế đó bao gồm đất ở, đất sản xuất của cả 1 thôn. Sau gần 2 năm nhân dân liên tục phản đối, cái gọi là “dự án ổn định dân di cư tự do” mới ra đời. Nhưng việc huyện Chư Dút coi bà con thôn Cồn Dầu là dân di cư tự do, cư trú bất hợp pháp là cố quên đi chính UBND huyện này đã có quyết định thành lập thôn Cồn Dầu (tên hành chính là thôn Nam Tiến) từ ngày 16/10/1996, với đầy đủ bộ máy tự quản và chi bộ Đảng của thôn. Tính đến trước khi có dự án cao su, hàng năm thanh niên trong thôn vẫn lên đường làm nghĩa vụ quân sự, bà con vẫn đóng thuế và các khoản phí theo quy định của địa phương. Tuy nhiên, UBND tỉnh Đắk Nông đã bất chấp tất cả, thu hồi toàn bộ đất vùng này để trồng cao su.

Tương lai của những dự án kiểu này thật bấp bênh, bởi thực tế cho thấy, chỉ cần bỏ qua các yêu cầu về thổ nhưỡng, nhiều người làm cao su ở Tây Nguyên đã lãnh những thất bại. Tiến sĩ Hoàng Thanh Tiệm, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cho biết: “Trong những năm vừa qua, thực tế đã trả lời bằng những thất bại như vậy rồi. Trước đây, người ta đã đưa cao su vào trồng ở độ cao 800 - 900 mét thì những vùng đó, đất có tốt đến bao nhiêu đi nữa cũng không phù hợp với cây cao su, vì đây là cây nhiệt đới ưa nóng ẩm. Còn đất nghèo kiệt thì rõ ràng rất khó phát triển. Người ta phải đào sâu, phải bón phân hữu cơ hoặc đưa đất ở đâu về, chứ tầng đất ba bốn mươi phân, dưới kết vón thì trồng thế nào? Trồng thì trồng được đấy, nhưng hiệu quả của nó sẽ ra sao?”.

Rừng cao su chưa thấy đâu nhưng hàng ngàn ha rừng (dù là rừng nghèo) đã bị đốn hạ, hậu quả về môi trường khó mà đong đếm được. Chưa kể những trường hợp lợi dụng chủ trương này để đẩy nhiều hộ dân, vốn đang làm ăn, sinh sống yên lành vào cảnh khốn khó. Và còn cả những thiệt hại kinh tế rất lớn sẽ xảy ra nếu chương trình này không tiến triển như mong đợi./.

PV thường trú Đài TNVN tại Tây Nguyên

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu