Cập nhật lúc : 2:29 PM, 14/11/2008

Phát triển cao su ở Tây Nguyên:

Bài III: Cần cái nhìn, cách làm thực tế

(VOV) - Nếu không giải quyết tốt những vấn đề đặt ra hiện nay, ngoài bấp bênh về thiên thời, yếu về địa lợi, Chương trình phát triển cao su ở Tây Nguyên có thể mất thêm yếu tố thứ 3: Lòng người

Nhìn rộng ra cả khu vực Tây Nguyên, thời kỳ diện tích cao su được mở rộng ồ ạt nhất lại diễn ra đúng vào lúc chi phí đầu tư quá cao, trong khi những yếu tố đảm bảo lợi nhuận đang chuyển biến theo chiều hướng xấu. Riêng ở Gia Lai, đã có hơn 6.400 ha cao su trồng mới trên đất rừng nghèo năm 2008.

Chưa được thiên thời, địa lợi…

Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Quang Đức là một trong những đơn vị trồng cao su bài bản nhất ở tỉnh Gia Lai. Công ty có đội xe chuyên dùng hơn 40 chiếc, có nhà máy phân bón công suất 5.000 tấn/năm và vườn ươm cao su giống rộng 40 ha. Ông Thái Hồng Nhân, Giám đốc công ty cho biết: Nhờ đầu tư vào thời điểm gần như ai cũng chê cây cao su, nên mức đầu tư của doanh nghiệp này chỉ bằng non nửa so với những vườn cao su trồng mới hiện nay. “Thời điểm năm 2004, khi chúng tôi lập các dự án đầu tư thì chỉ có 69 triệu đồng một ha. Còn bây giờ, mọi thứ đều tăng giá gấp đôi so với trước. Định mức đầu tư bây giờ là 130 triệu đồng cho giai đoạn kiến thiết cơ bản” ông Nhân nói.

Theo kết quả khảo sát đất của Viện nghiên cứu cao su Việt Nam, chi nhánh Gia Lai, phần lớn trong số diện tích vừa nêu trồng trên đất xấu, vì vậy vườn cây phải mất từ 7 - 8 năm kiến thiết cơ bản. Chi phí vì thế cũng tăng thêm 30 - 40 triệu đồng cho mỗi ha. Tốn kém chưa dừng ở đây. Để có 1.000 ha đất trồng cao su, sẽ phải san đồi, lấp suối, mở tới 30 km đường (chưa kể làm cầu). Thêm những phát sinh này, mỗi ha cao su rừng nghèo lại tăng thêm hàng chục triệu đồng chi phí, khiến tổng đầu tư kiến thiết cơ bản của 1 ha cao su có thể lên tới 200 triệu đồng, cao gấp 3 lần so với trước đây. Như vậy, số tiền mà người dân và các doanh nghiệp phải bỏ vào diện tích 6.400 ha cao su nói trên có thể vượt 1.200 tỷ đồng.

Theo tính toán của Hiệp hội Cao su Đông Nam Á, với sự tăng trưởng kinh tế như những năm gần đây, đến năm 2015 thế giới sẽ thiếu khoảng 3 triệu tấn cao su thiên nhiên. Với sản lượng còn thiếu này, dù đẩy hết tốc lực mở rộng diện tích, các nhà trồng cao su cũng không đáp ứng kịp nhu cầu, nên giá cao su vẫn cao. Đây cũng là cơ sở để các doanh nghiệp Việt Nam đặt niềm tin vào cây cao su và tiến hành trồng cao su bằng mọi giá.

Tuy nhiên, nhu cầu của thế giới là một con số khả biến. Giá cao su càng tăng cao, càng tác động tiêu cực tới nhu cầu. Bởi thế, khi giá tăng liên tục trong suốt 5 năm qua, không ít nhà nông và doanh nghiệp đã cảm nhận được nguy cơ cận kề. Công ty cao su Đắk Lắk là một trong số này. Là đơn vị chủ lực trong chương trình chuyển đổi 30.000 ha rừng sang trồng cao su của tỉnh Đắk Lắk, nhưng suốt gần 2 năm nay, công ty lại dốc sức đầu tư vào lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, dịch vụ du lịch, và xúc tiến xây dựng một nhà máy sản xuất chỉ thun, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm cao su. Ở tỉnh Kon Tum, Công ty cao su Kon Tum cũng đã thực hiện những bước đi mới khi chú trọng đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ hàng tiêu dùng và kinh doanh khách sạn. Lãnh đạo của 2 công ty, ông Huỳnh Văn Khiết và ông Ngô Văn Mân đều coi đây là giải pháp “đi bằng nhiều chân”, nhằm chống đỡ một chu kỳ suy thoái đang đến gần.

Không nên nóng vội!

Sản xuất nông nghiệp luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cao su, một loại cây phải tốn 10 năm mới cho kết quả, mức rủi ro tiềm ẩn càng lớn. Thực tế, cùng với yếu tố cung - cầu, giá cao su thiên nhiên còn phụ thuộc rất nhiều vào giá dầu mỏ. Dầu tăng giá sẽ làm cao su tổng hợp - một sản phẩm từ dầu tăng giá theo, kéo theo giá cao su thiên nhiên tăng. Mấy năm qua, giá dầu tăng liên tục khiến cho kinh tế thế giới không đủ sức chịu đựng. Tình trạng khủng hoảng kinh tế toàn cầu và việc giảm giá dầu đang xảy ra, có thể coi là một hậu quả tất yếu.

Sau hơn 3 tháng liên tục giảm, trung tuần tháng 10/2008, dầu mỏ chỉ còn mức trên dưới 70USD/thùng vào ngày 12/7. Theo đó, giá cao su thiên nhiên cũng giảm từ mức hơn 28.000 nhân dân tệ/1 tấn xuống còn 12. 800 nhân dân tệ/1 tấn. Ở Gia Lai và Đắk Lắk, giá cao su mủ đông giảm từ 18 triệu đồng xuống còn 6 triệu đồng/1 tấn. Với mức giá này, 1 ha cao su, từ chỗ cho thu nhập trên dưới trăm triệu đồng/năm, có thể chỉ còn trên dưới 40 triệu đồng/ năm.

Từ góc độ nông nghiệp thuần túy, cao su là loại cây dễ trồng, ít kén đất. Từ xứ nóng như các quốc gia châu Phi, tới xứ lạnh như Trung Quốc đều trồng được loại cây này, nên nó càng không có cơ sở duy trì lợi nhuận một cách bền vững. Theo thông tin từ Trung tâm thông tin thương mại (Bộ Công thương), đến năm 2015, Indonesia có thể vượt Thái Lan trở thành nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới với sản lượng gần 4 triệu tấn. Thái Lan lúc đó sẽ đạt khoảng 3,75 triệu tấn. Phong trào trồng cây cao su ở Campuchia cũng đang ngày càng phát triển với khoảng 150.000 ha, sẽ bắt đầu được thu hoạch từ năm 2015. Những nỗ lực trồng mới cao su tại Lào, Việt Nam, Malaysia, Brazil, một số nước châu Phi cũng góp phần làm cho lượng cung cao su thiên nhiên tăng nhiều trong 7-8 năm tới.

Sự tăng nguồn cung diễn ra trong bối cảnh giá dầu hạ sẽ khiến cao su rừng nghèo ở Tây Nguyên khó cạnh tranh. Ngay từ lúc này, sự thận trọng, tính toán tỉ mỉ trong đầu tư là cần thiết.

Tiến sĩ Huỳnh Văn Khiết, Giám đốc Công ty cao su Đắk Lắk, Phó Chủ tịch Hiệp hội cao su Việt Nam cho rằng: Sản xuất cao su của chúng ta hiện nay chỉ có một lợi thế đó là nhân công rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này sẽ không còn bởi chúng ta đang phấn đấu đến năm 2015 đạt thu nhập 800 USD/người. Chính vì vậy, nếu tiến hành trồng cao su ồ ạt mà không có giải pháp đề tăng năng suất; cơ cấu giống hợp lý thì chắc chắn sẽ phải trả giá. Hiện các nhà khai thác chỉ quan tâm tới mủ là chính. Tuy nhiên, sắp tới không chỉ là lấy mủ, mà sau chu kỳ khai thác phải bán được gỗ. Giống cao su hiện các công ty Việt Nam đang trồng chỉ được 3 tấc gỗ, nhưng hiện Malaysia đang có bộ giống Seri 3000 cho năng suất tới 3 tấn mủ và 1m3 gỗ/ 1 cây cao su sau 25 năm khai thác.

Ngày 8/8/2008, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản truyền đạt ý kiến của Thủ tướng về việc giãn tiến độ của chương trình 100.000 ha cao su ở Tây Nguyên đến năm 2015. Mặc dù đã có thêm 5 năm để thực hiện chương trình, nhưng khối lượng công việc hàng năm vẫn rất lớn. Riêng tỉnh Gia Lai, trung bình mỗi năm tới vẫn sẽ chuyển 6.000 ha rừng sang trồng cao su. Toàn khu vực sẽ chuyển đổi 15.000 ha/năm. Nếu vẫn giữ cách làm như hiện nay (khai hoang trước, trồng cao su trước, khảo sát đất sau) thì sẽ có rất nhiều cao su trồng trên đất không phù hợp.

Phát triển cao su ở Tây Nguyên đến năm 2015 là một chương trình lớn, chỉ tính riêng vốn đầu tư cho thời gian kiến thiết cơ bản có thể tới 20.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi diện tích này đi vào khai thác lại chính là thời điểm cạnh tranh khốc liệt. Những điều đó có nghĩa là cao su đang và sẽ trồng mới ở Tây Nguyên đã yếu về địa lợi lại bấp bênh về thiên thời. Trong điều kiện như vậy, thời gian là yếu tố cần thiết. Có thời gian mới có thể khảo nghiệm bộ giống mới phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu, đất đai khác nhau, nhất là các giống vừa cho năng suất mủ cao, vừa cho nhiều gỗ.

Vấn đề lao động, dân sinh của chương trình cao su tại Tây Nguyên cũng nóng bỏng không kém. Để chăm sóc, khai thác 100.000 ha cao su, cần tới khoảng 50.000 lao động. Số lao động này phải được bố trí gần với vườn cây mới đảm bảo được năng suất và hiệu quả kinh tế. Các khu rừng nghèo nằm trong quy hoạch trồng cao su ở Tây Nguyên đều xa khu dân cư, nên các doanh nghiệp sẽ phải di dời khoảng 25.000 hộ dân vào vùng dự án. Nếu thực hiện chủ trương của Chính phủ là ưu tiên đồng bào dân tộc thiểu số thì số hộ cần di chuyển sẽ vào khoảng 15.000 - 17.000 hộ, tương đương dân số của 150 - 200 buôn. Di chuyển một lượng lớn dân cư như vậy sẽ gây ra những vấn đề xã hội không nhỏ.

Mục tiêu lớn, khối lượng công việc khổng lồ, nhưng cách tổ chức thực hiện còn đầy bất cập. Công tác chuyển đổi rừng sang trồng cao su của một số tỉnh đang được rút kinh nghiệm, nhưng các bức xúc về lao động, dân sinh, môi trường vẫn bị bỏ ngỏ. Chưa có doanh nghiệp, địa phương nào xây dựng phương án giải quyết cụ thể. Thực tế này đòi hỏi không chỉ các tỉnh Tây Nguyên mà các bộ, ngành liên quan cần củng cố, cụ thể hóa cơ chế, chính sách; xác lập những chế tài cần thiết nhằm ràng buộc doanh nghiệp trong từng nội dung cụ thể của dự án, đồng thời ngăn chặn những biến tướng, tiêu cực phát sinh.

Nếu không giải quyết tốt những vấn đề nêu trên, ngoài bấp bênh về thiên thời, yếu về địa lợi, Chương trình phát triển cao su ở Tây Nguyên có thể mất thêm yếu tố thứ 3: Lòng người./.

PV thường trú Đài TNVN tại Tây Nguyên

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu