Bài học về tình yêu thương
Chuyện kể rằng, có những người con không may bị những khiếm khuyết nho nhỏ trên cơ thể nên được nhà Trời cử xuống trần gian để gửi vào những ngôi nhà có những đứa con ngoan ngoan với những người cha, người mẹ thương yêu và hết lòng vì con. Họ chính là những món quà mà nhà Trời đã ban tặng cho những gia đình đó. Và các con cũng chính là những món quà vô giá ấy. Cảm ơn nhà Trời đã gửi các con tới đây để các cô được sống một cuộc đời đẹp hơn, ý nghĩa hơn…
Câu chuyện kết thúc, cả lớp học như lặng đi. Nước mắt lăn dài trên khuôn mặt của các cô và gương mặt của những học trò chưa một lần được nhìn thấy ánh sáng - những giọt nước mắt từ những khóe mắt mờ đục nhưng gửi gắm trong đó là biết bao niềm biết ơn, kính trọng. Đó là câu chuyện mà cô Lê Thu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố đã kể trong buổi lễ kỷ niệm xúc động mang tên “Thắm tình thầy trò” do các thế hệ học sinh khối học sinh khiếm thị của trung tâm tổ chức để bày tỏ lòng biết ơn của mình với những người đã dìu dắt và đưa các em đến với ánh sáng của cuộc sống. Trong số họ, có những người đã ra trường, có những người vẫn đang gắn bó với trung tâm nhưng dẫu thế nào thì với họ, nơi đây vẫn là một gia đình lớn, một mái nhà chung đầy ắp những yêu thương. Nơi ấy, những bài học họ có được không phải từ những bảng đen, phấn trắng mà từ những giáo án và dụng cụ học tập do chính các thầy cô mày mò sáng tạo ra từ những lần chứng kiến những khó khăn của các em trong việc tiếp thu kiến thức. Và từ đó, các em đã có thể tiếp thu bài giảng tốt hơn nhờ những giáo án và đồ dùng học tập do chính tay các cô sáng tạo ra. Nhưng có một bài học mà có lẽ họ sẽ mang theo suốt cuộc đời, đó là bài học về tình yêu thương, niềm tin vào cuộc sống. Cũng chính tình yêu thương của các thầy cô đã cho các em hiểu những mất mát, đắng cay hay những nghiệt ngã của số phận chỉ là những thử thách nhất định trên cả chặng đường đời…
Và những người chèo đò
Từ khóa học đầu tiên (1994 - 1995) chỉ có 7 học sinh, đến nay, khối học sinh khiếm thị của Trung tâm giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố đã có 63 học sinh. Hiện nay, trung tâm là đơn vị đầu tiên có lớp khiếm thị dành cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Dẫu chỉ có hai buổi học vào những ngày cuối tuần (thứ Bảy và Chủ nhật) nhưng lớp học đã mở ra cơ hội để các em hòa nhập cuộc sống. Những cái tên như cô Nguyễn Thị Thục, cô Nguyễn Thị Bích Lưu, cô Lê Thu Hương, cô Trần Thị Hồng Hà… luôn là những cái tên được các em nhắc đến với biết bao yêu thương, kính trọng. Đó là những cái tên mà các học trò có thể đọc ra ngay, dẫu chỉ nghe thấy tiếng bước chân từ đằng xa, hay hơi thở của ai đó khi ngồi gần…
 |
| Cô Hương (đứng giữa) bên những học trò khiếm thị |
Tốt nghiệp khoa Toán, Đại học Sư phạm I năm 1981, nhiều người ngạc nhiên khi ngôi trường mà cô giáo trẻ Lê Thu Hương lựa chọn khi ấy không phải là một trường đại học hay trung học phổ thông nào đó mà là Trung tâm giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố - một ngôi trường tưởng chừng không có nhiều cơ hội để cô thể hiện năng lực chuyên môn và còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Càng bất ngờ hơn khi năm 1997, cô lại lựa chọn gắn bó với khối học sinh khiếm thị. Trong khi đó, kinh nghiệm hỗ trợ với nhóm học sinh thuộc đối tượng đặc biệt này với cô Hương cũng như các giáo viên khác trong trường chỉ là con số không tròn chĩnh, sách giáo khoa bằng chữ nổi chưa có, các đồ dùng học tập hầu như cũng không, mỗi giờ học toán đối với cả cô và trò vô cùng gian nan. Cô Hương cũng chính là một trong những người phát động ủng hộ các em tiền ăn trưa để giờ đây, sau mỗi buổi học, các em lại có được những suất ăn trưa miễn phí, bữa ăn đạm bạc nhưng đong đầy tình cảm của những người thầy, người cô...
|
Những học sinh khiếm thị của trung tâm có thể tiếp thu bài giảng tốt hơn nhờ những giáo án và đồ dùng học tập do chính các cô sáng tạo ra từ những đêm không ngủ. Và có một bài học mà có lẽ họ sẽ mang theo suốt cuộc đời, đó là bài học về tình yêu thương…
|
Mỗi buổi lên lớp, chứng kiến cảnh những học trò phải vật lộn với từng con số, phép toán, những đồ thị và hình học không gian, cô Hương lại càng cảm phục hơn ý chí và quyết tâm của những học sinh giàu nghị lực này. Và cũng từ đó, việc hình dung làm sao cho có được những cách minh họa, diễn giải các đồ thị, các hình không gian phức tạp luôn là nỗi ám ảnh trong tâm trí cô: hình parapol hệ số dương giống như cái chén để ngửa, hình parapol hệ số âm giống như cái chén úp, đường thẳng vuông góc với mặt phẳng như cánh tay giơ phát biểu đặt vuông góc với mặt bàn… Những ví dụ ấy đã khiến cho những giờ toán vốn khô khan với học sinh bình thường và càng khó khăn hơn với những học trò khiếm thị trở nên dễ hiểu, sinh động hơn rất nhiều.
Từ những trăn trở, băn khoăn ấy, năm 2000, ý tưởng về một bộ sách giáo khoa cho học sinh khiếm thị đã được cô Hương thực hiện. Ban đầu là những hình vẽ được xoắn bằng những sợi dây đàn, dây gai nhỏ và dùng keo gắn lên mặt bìa cứng... Nhưng rồi chính cô cũng nhận thấy cách làm này khó, mất nhiều thời gian và keo gắn cũng chỉ được một thời gian rồi lại bung ra. Sau nhiều đêm mất ngủ, cô lại tự mày mò, tìm ra cách làm đơn giản hơn như vê sợi băng dính hai mặt lại thành những sợi dây dài, uốn thành hình vẽ theo ý muốn, gắn lên bìa, rồi rắc phấn rôm lên trên để giữ được lâu. Học sinh chỉ cần sờ tay theo băng dính là có thể hiểu được hình vẽ. Với những học sinh có thị lực khá hơn, cô vẽ hình trên máy vi tính, in âm bản, ép plastic, rồi lấy kim châm theo nét vẽ. Học sinh sờ theo nốt kim châm mà đọc được hình...
Cứ thế, ngày ngày, việc tiếp thu kiến thức trên lớp trở nên dễ dàng hơn, những tiết học toán cũng trở nên sôi nổi hơn với những học sinh khiếm thị nhờ sự hỗ trợ của cuốn sách giáo khoa ấy... Dần dần, rút kinh nghiệm từ thực tiễn các bài giảng, qua 4 năm, sáng kiến kinh nghiệm… “Một số đồ dùng học tập môn Toán dành cho học sinh khiếm thị” đã thực sự hoàn thiện. Với tính ứng dụng và hiệu quả cao, sáng kiến này đã đoạt giải A cấp thành phố Hà Nội năm học 2005 - 2006 và đoạt giải Nhất cấp quốc gia năm học 2007 - 2008 về đồ dùng dạy học tự làm cho học sinh khiếm thị.
Những buổi học không có ánh sáng nhưng lại đầy ắp âm thanh và rộn rã tiếng cười của các em chính là động lực và niềm vui để các thầy cô gắn bó với mái trường còn nhiều khó khăn, thiếu thốn này. Còn với những học sinh khiếm thị, sự gắn bó yêu thương của thầy cô thực sự đã đưa các em đến gần hơn với cuộc sống./.