Cập nhật lúc : 3:49 PM, 18/06/2009

Nuôi tôm ở ĐBSCL

Chạy theo sản lượng là tự sát

Hầu hết số hộ nuôi tôm tại ĐBSCL năm qua mang tiếng là nuôi tôm đạt sản lượng cao, nhưng thực chất sau khi hạch toán thì thua lỗ. Chủ đầm thành con nợ trong khi các doanh nghiệp chế biến kêu trời vì thiếu nguyên liệu…

Ông Võ Hồng Ngoãn (Bạc Liêu), người đã được phong là “vua tôm” cho rằng, nông dân hiện không còn tha thiết với con tôm, bởi giá tôm nguyên liệu bán ra quá thấp, không bù nổi chi phí cho người nuôi. Giá tôm năm 2008 giảm từ 20-30% so với năm 2007, trong khi đó có một nghịch lý là giá thức ăn cho tôm, thuốc thú y thủy sản, con giống… lại tăng từ 15-30%. Do đó, hầu hết số hộ nuôi tôm năm qua mang tiếng là trúng tôm, nuôi tôm đạt sản lượng cao, nhưng thực chất sau khi hạch toán lại chi phí sản xuất thì thua lỗ, may thì hoàn vốn, số hộ có lãi rất ít.

Theo ông Ngoãn, không thể đổ lỗi cho người nuôi được, bởi tình trạng rớt giá nằm ngoài tầm kiểm soát của nông dân. Bằng chứng là năm 2008, nhiều hộ nuôi được mùa tôm nhưng hạch toán ra vẫn lỗ. Một thực trạng tồn tại bấy lâu nay trong ngành tôm là ai cũng kêu lỗ trong khi sản lượng tôm không ngừng tăng. Để làm rõ điều này, nhà quản lý cần làm rõ sự phân chia lợi nhuận giữa các bên. Có như vậy, người nuôi tôm mới không rơi vào cảnh bị ép giá.

 Võ Hồng Ngoãn
Việc phát triển ồ ạt, không theo quy hoạch cả về vùng nuôi lẫn đối tượng nuôi; Chạy theo sản lượng, coi nhẹ chất lượng cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tôm thương phẩm thiếu sức cạnh tranh khiến đầu ra bị bấp bệnh. Vài năm trở lại đây, ở các tỉnh ĐBSCL, đặc biệt là các tỉnh ven biển: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau diễn ra tình trạng người người nuôi tôm, nhà nhà nuôi tôm. Từ nuôi quảng canh lên bán công nghiệp rồi đến siêu công nghiệp. Người nuôi tôm tìm mọi cách huy động vốn, trong đó phần lớn là vay ngân hàng. Họ chạy theo sản lượng mà quên đi bài toán rất đơn giản đó là hạch toán lợi nhuận thu về sau mỗi vụ nuôi. Điều này dẫn tới tình trạng phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch, khủng hoảng đầu ra. Không những thế, còn nảy sinh hiện tượng ô nhiễm môi trường nuôi khiến dịch bệnh nảy sinh.

Theo ông Ngoãn, hạch toán lợi nhuận sau mỗi vụ nuôi chính là kinh nghiệm được đúc rút đối với người nuôi tôm từ chính những lần thất bại. Trong điều kiện ít vốn, kiến thức khoa học kỹ thuật còn hạn chế, không nên áp dụng hình thức nuôi mật độ dày. Bởi lẽ rất đơn giản là nuôi mật độ dày, tiền đầu tư con giống, thức ăn sẽ rất lớn, tỉ lệ hao hụt cũng cao hơn. Hơn nữa, nuôi quá dày sẽ dẫn đên tình trạng ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh dẫn đến tỷ lệ rủi ro cao.

Hạch toán thực tế đã chứng minh, dù sản lượng thấp hơn nhưng đứng ở góc độ người nuôi, lợi nhuận thu được từ hình thức nuôi thưa (7-10 con/m2 ao nuôi) cao hơn hình thức nuôi dày (30-40con/m2 ao nuôi).

Kinh nghiệm cho thấy, bà con nông dân (ít vốn, trình độ kỹ thuật hạn chế) không nên nuôi tôm thẻ. Vì tôm thẻ là đối tượng nuôi phù hợp với hình thức nuôi công nghiệp, đòi hỏi đầu tư lớn, kỹ thuật chuyên sâu. Còn về việc phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng, Nhà nước cần có quy hoạch cụ thể về vùng nuôi lẫn đối tượng nuôi trên cơ sở nghiên cứu thổ nhưỡng và đầu ra cho sản phẩm. Phát triển tràn lan nuôi tôm thẻ có thể sẽ dẫn tới tình trạng người nuôi sẽ phải ăn tôm thay cơm, chưa kể đến việc hủy hoại môi trường nuôi do việc nuôi siêu công nghiệp gây nên.

“Một số doanh nghiệp kinh doanh giống và thức ăn đề nghị tôi nuôi “biểu diễn” tôm thẻ chân trắng. Họ cung cấp giống và thức ăn. Nếu chấp nhận tôi sẽ có trong tay hàng trăm triệu đồng sau một vụ nuôi nhưng tôi đã từ chối. Lương tâm của một người đã gắn bó với con tôm không cho phép tôi biến mình chở thành “chim mồi”-“Vua tôm” Võ Hồng Ngoãn.

Minh Đăng

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu