Cập nhật lúc : 6:00 AM, 08/02/2010

Chuyển khó khăn thành thuận lợi

(VOV) - Khi công trình nhà máy thủy điện Lai Châu được hoàn thành, có điện, có đường là có điều kiện thu hút đầu tư, giúp Lai Châu sử dụng nguồn tài nguyên của mình, phát triển kinh tế xã hội 

Nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội 450km về phía Tây Bắc, Lai Châu có nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ - thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch, đồng thời, cũng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Phóng viên VOV phỏng vấn ông Nguyễn Minh Quang, Ủy viên T.W Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu về những thuận lợi, khó khăn cũng như những định hướng phát triển trong thời gian tới để khai thác tối đa tiềm năng, đưa kinh tế xã hội của tỉnh ngày càng phát triển.

** Thưa ông, Lai Châu là một trong những tỉnh khó khăn nhất nước hiện nay. Vậy làm thế nào để trong vòng 10 năm nữa, tỉnh có thể tiến kịp với các địa phương khác trong cả nước?

Ông Nguyễn Minh Quang, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu
Ông Nguyễn Minh Quang: Hiện nay chúng tôi đang nhìn nhận, đánh giá đầy đủ các mặt khó khăn và thuận lợi để đưa ra được kế hoạch hành động hợp lý nhất, phù hợp với thực tế của địa phương, nhằm tạo ra bước ngoặt mang tính quyết định.

Lai Châu là tỉnh vùng cao biên giới, rừng núi nhiều và chủ yếu là rừng phòng hộ, núi đồi dốc, địa hình chia cắt, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, lại có nhiều cao nguyên, sông suối. Tỉnh có diện tích 10.000 km2 mà chỉ có 370.000 người, hầu hết lại là đồng bào dân tộc thiểu số còn bị hạn chế về mặt bằng tri thức, cho nên thiếu lao động có chất lượng. Cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm của tỉnh còn yếu kém, đặc biệt là đường giao thông, nên khó kêu gọi các nhà đầu tư.

Tuy nhiên, chúng tôi lại có nhiều lợi thế về tài nguyên. Lai Châu và Sơn La là 2 tỉnh có tiềm năng nguồn lợi thủy điện lớn nhất nước. Chính phủ đã quyết định năm 2010 sẽ khởi công xây dựng thủy điện Lai Châu có công suất 1.200 MW, bằng một nửa công suất thủy điện Sơn La, và là công trình thủy điện lớn cuối cùng của nước ta. Ngoài ra, còn có nhiều công trình thủy điện đáng kể khác đã được qui hoạch xây dựng như Bản Chát, Huội Quả (huyện Than Uyên), Nậm Hằng (Mường Tè). Tổng công suất các nhà máy thủy điện của Lai Châu sẽ là 2.500 MW.

Lai Châu giàu tài nguyên khoáng sản, trong đó chủ yếu là khoáng sản vật liệu xây dựng. Tài nguyên vật liệu xây dựng có ở hầu hết các huyện, thị xã, đáng chú ý là đá phiến, đá vôi xi măng, cuội kết vôi, đá granit, nhiều loại đá xẻ... Hiếm nơi nào có tiềm năng và trữ lượng lớn theo dự báo đến 14,2 triệu m3 đá phiến như ở Lai Châu. Nguồn đá quí này đã được dùng lợp mái Nhà hát Lớn Hà Nội, tôn vẻ đẹp trang trọng và bền vững cho công trình văn hóa đặc sắc đó. Loại đá này còn dùng ốp lát, phục vụ mỹ nghệ, trang trí, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng.

Đá vôi xi măng có tại 2 huyện Tam Đường và Sìn Hồ với trữ lượng hàng trăm triệu tấn; sét xi măng trên 20 triệu tấn tập trung ở huyện Tam Đường; còn cuội kết vôi thuộc hệ tầng Yên Châu, kéo dài 50km, dày 2m, dễ cưa cắt.

** Từ lâu, các nhà thăm dò địa chất Pháp và Việt Nam đã dự báo Lai Châu có tiềm năng dồi dào về nhiều loại khoáng sản quí hiếm. Xin ông nói rõ hơn về các nguồn tài nguyên này.

Ông Nguyễn Minh Quang: Trừ 2 điểm than đá ở Nậm Than, Huổi Lá và 3 điểm sắt có qui mô nhỏ và chất lượng trung bình, Lai Châu còn có rất nhiều khoáng sản kim loại quí như sắt, đồng, chì, kẽm, vàng, molyp đen, đất hiếm, triển vọng nhất là 3 loại khoáng sản công nghiệp quí: đất hiếm, vàng và đồng.

Lai Châu có tiềm năng đất hiếm lớn nhất nước, dự báo trên 21 triệu tấn, đã ghi nhận 4 mỏ và điểm khoáng sản đất hiếm, trong đó có 3 mỏ đã được thăm dò tính trữ lượng. Các nhà khoa học cũng ghi nhận 15 điểm quặng vàng, trong đó 1 điểm đã được đầu tư đánh giá và 1 điểm đang được điều tra thăm dò. Trong số 7 điểm tài nguyên đồng, đã có 3 điểm được điều tra đánh giá, và 1 trong 4 điểm chì, kẽm, đã có 1 điểm được đánh giá.

Cảnh đẹp Lai Châu (Ảnh: Internet)

Bên cạnh điểm molyp đen đã được đo vẽ địa chất tỉ lệ 1/50.000, còn có 4,2 triệu tấn barit và 2,9 triệu tấn fluorit. Nếu có đủ điều kiện về nhân lực và khoa học, kỹ thuật để khai thác và sử dụng tiềm năng khoáng sản một cách hợp lý, chắc chắn sẽ tạo ra bước đột phá về cơ cấu kinh tế của tỉnh, chuyển từ thuần nông, thuần lâm sang công nghiệp chiếm tỉ trọng lớn.

Ngoài ra, Lai Châu còn có 912.000 ha tài nguyên đất, trong đó có 400.000 ha lâm nghiệp, 72.000 ha cây hàng năm, trên 29.000 ha lúa và hàng trăm ha đất chưa sử dụng. Tiềm năng đất to lớn này đã và đang tạo điều kiện mở ra các ngành công nghiệp mới như ngành cao su, ngành dầu sinh học từ cây jatropha…

** Tiềm năng to lớn, vậy vì sao Lai Châu vẫn nghèo?

Ông Nguyễn Minh Quang: Giàu tiềm năng, nhưng làm thế nào để biến tiềm năng thành của cải vật chất, thành tài sản xã hội thì không phải ngày một ngày hai. Chưa nói đến việc tỉnh thiếu thốn các điều kiện, phương tiện khoa học, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, mà như tôi đã nói, ngay đến nguồn lao động phổ thông cũng còn chưa đủ, nói gì đến nguồn nhân lực trình độ cao. Một trong những lý do nghèo là cơ sở hạ tầng của tỉnh yếu kém, nhất là về đường sá, chưa tạo ra tiền đề phát triển kinh tế.

Tuy tiềm năng dồi dào, đa dạng và nằm ngay trên lãnh thổ Lai Châu, nhưng qui hoạch xây dựng các công trình, khai thác tối ưu tiềm năng ra sao, không chỉ một mình tỉnh có thể làm được.

** Như vậy tất cả lại phải trông chờ vào cấp trên?

Ông Nguyễn Minh Quang: Không hoàn toàn như thế. Những gì thuộc phạm trù vĩ mô, phạm trù quốc gia thì do Nhà nước quyết định. Còn những gì thuộc thẩm quyền của địa phương thì chúng tôi đã và đang xúc tiến đúng kế hoạch, thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của Lai Châu là đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, đồng thời với các công trình giao thông do trung ương đảm nhiệm. Tỉnh đang xây dựng đường giao thông lớn ở 2 huyện Mường Tè và Sìn Hồ, là những huyện vùng cao có nhiều khó khăn, nhưng lại có tiềm năng kinh tế và du lịch.

Vài năm nữa, tuyến đường 35 km Nậm Tăm - thị xã Lai Châu hoàn thành, không những rút ngắn được nửa chặng đường hiện nay, mà còn là con đường huyết mạch góp phần thúc đẩy phát triển mạnh mẽ kinh tế, xã hội của huyện Sìn Hồ. 3 năm nữa, sẽ có thêm tuyến đường từ Pa Tần (Sìn Hồ) sang Mường Tè, nối với cửa khẩu Umatukhòong (Lào), có một nhánh sang huyện Mường Nhé (Điện Biên), vừa tạo ra không gian kinh tế mở của cả vùng, kể cả kinh tế cửa khẩu với Trung Quốc, vừa góp phần quan trọng làm cho huyện vùng cao Mường Tè thoát tình trạng đói nghèo.

Con đường mở vào thủy điện Lai Châu ở Nậm Hàng sẽ được nâng cấp lên cấp 5. Quốc lộ 32 đang được thảm nhựa và hoàn chỉnh hệ thống cầu. Thủ tướng Chính phủ cũng đã đồng ý mở một nhánh đường cao tốc từ huyện Văn Bàn (Lào Cai) nối sang Than Uyên. Khi đó, đường bộ từ Hà Nội lên Lai Châu không chỉ có đường 32 chạy 10 tiếng đồng hồ như hiện nay, mà có thể rút ngắn được 4 giờ theo tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai sang Lai Châu.

Chính phủ cũng đã khảo sát mặt bằng ở Tân Uyên để chuẩn bị khởi công xây dựng sân bay tại đây. Cùng lúc sẽ thi công đồng bộ hệ thống điện và các công trình cơ sở hạ tầng. Từ thực tế đó, chúng tôi có đủ cơ sở để lạc quan về tương lai của tỉnh Lai Châu.

** Vậy có thể nói Lai Châu là tỉnh không nghèo, mà chỉ đang gặp nhiều khó khăn, phải không thưa ông?

Ông Nguyễn Minh Quang: Đúng là như thế. Niềm tin đó càng lớn lên khi công trình nhà máy thủy điện Lai Châu được hoàn thành. Có điện, có đường sá hoàn chỉnh là có điều kiện thu hút đầu tư, giúp Lai Châu sử dụng nguồn tài nguyên dồi dào của mình, nhanh chóng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh, hiện đại.

Ngoài nguồn tài nguyên khoáng sản, chúng tôi còn có nguồn tài nguyên du lịch độc đáo. 20 dân tộc anh em chung sống bao đời đã tạo cho ngành du lịch Lai Châu nhiều nét văn hóa đa dạng. Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rõ các nét văn hóa đặc trưng. Bên cạnh đó, tỉnh có nhiều di tích khảo cổ học nền văn minh của người Việt cổ, như các công cụ thời kỳ đồ đá tại Nậm Phé, Nậm Tan (Phong Thổ), các công cụ bằng đồng của nền văn hóa Đông Sơn thời đại Hùng Vương; miếu Nàng Han, hang Thắm Tạo (Phong Thổ), bia Lê Lợi khắc trên vách đá bờ bắc sông Đà; núi Đá Ô, dinh thự Đèo Văn Long - vua Thái bù nhìn thời kháng chiến chống Pháp…

Một hãng lữ hành của Anh đã bầu chọn bản Pú Đao của 887 đồng bào Mông ở huyện Sìn Hồ, là 1 trong 5 điểm đến hấp dẫn nhất Đông Nam Á…

Tỉnh có rất nhiều lễ hội mang rõ bản sắc văn hóa của các dân tộc, như lễ hội Nàng Han, Kim Pang Then, Hạn Khuống, hội hoa ban của dân tộc Thái; lễ hội Cơm mới của người La Hủ; lễ hội Gàu Tào người Mông; lễ hội Xên Mường, Căm Mường của người Lào; lễ hội Lập Tịch của người Dao; Bun Vốc Năm của người Lự, lễ hội Bắt Cá của người Kháng; lễ Cúng bản của người Khống; các trò chơi dân gian tú cải, đánh cù, bắn nỏ, ném còn… Tại đây, du khách còn được nghe hát Quan làng trong đám cưới người Tày; thổi Pí, hát giao duyên của người Thái; xem múa kiếm của người Dao; múa xòe, múa sạp của người Thái; hát đối và múa khèn của người Mông; thưởng thức nghệ thuật tranh cúng độc đáo của người Dáy…

Du khách cũng không thể quên mật ong Mường Tè, rượu ngô Sùng Phài, cơm lam, cáp long (cá suối ướp chua), các món nướng chấm nậm pịa của người Thái…

Đây cũng là nơi còn lưu giữ nhiều nghề thủ công: mây tre đan Mường Tè, Sìn Hồ; miến dong Tam Đường; dệt thổ cẩm ở Than Uyên, thị xã Lai Châu, Tam Đường, Phong Thổ; nghề rèn và chạm bạc Tam Đường, Sìn Hồ, Mường Tè… với bí quyết và tạo dáng riêng, gây ấn tượng khó phai trong lòng du khách.

Lai Châu còn được xem là điểm đến của du lịch thiên nhiên, với nhiều cao nguyên cao trên 1.500m bốn mùa mây và sương bao phủ, khí hậu trong lành, mát lạnh quanh năm như Sìn Hồ, Hồ Thẩu, Dào San… Tỉnh có nhiều đỉnh núi cao, sông, suối, thác ghềnh, như ngọn Phăng Si Păng cao 3.143 m, đỉnh Pu Tà Tẩng cao 2.109 m, Pu Sa Leng 3.096 m, dãy Pu Sam Cáp trên 1.700 m, các con sông hùng vĩ: sông Đà, Nậm Na, Nậm Mu… Thiên nhiên ban tặng cho Lai Châu nhiều sản phẩm suối ước nóng giá trị ở Mường Sao, Vàng Bó (Phong Thổ), Nà Đông, Nà Đen (Tam Đường), các suối nước khoáng Vàng Mơ, Mường Khoa (Than Uyên), Pma (Mường Tè)…

Mặc dù còn có nhiều hạn chế, khó khăn, tỉnh đã có chính sách ưu đãi đầu tư, bước đầu thu được kết quả mong đợi đối với 2 dự án trồng cao su và trồng keo, cây jatropha. Trước đây có ý kiến cho rằng ở các tỉnh miền núi phía Bắc khí hậu lạnh, không trồng được cao su - loại cây xứ nóng. Nhưng sau khi khảo sát thực tế ở các huyện thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc giáp với Lai Châu, chúng tôi thấy cây cao su phát triển tốt, nên tỉnh có chủ trương trồng cao su ở địa phương. Ngày nay đã có cách mạng về giống, về công nghệ, nên cây cao su có thể phát triển cả ở vùng lạnh.

Điều đặc biệt quan trọng là chủ trương của Lai Châu đã được Bộ Chính trị ủng hộ, coi đây không chỉ đơn thuần là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mà còn là một chuyển biến lớn ở Tây Bắc, còn là biểu hiện tình cảm thiêng liêng của đồng bào miền Nam tri ân đồng bào miền Bắc. Quyết định của Chính phủ để Tập đoàn Công nghiệp cao su đầu tư của cải, vật tư và công nghệ vào Lai Châu và các tỉnh Sơn La, Điện Biên, chính là thể hiện tấm lòng Nam - Bắc đó. Hiện cây cao su đang phát triển tốt ở Sìn Hồ.

Thực tế đó là bài học quí đối với chúng tôi, cần phải có nhận thức đúng thì mới tìm được giải pháp và hành động đúng.

** Ngoài tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là về giao thông, tỉnh còn quan tâm đến những vấn đề nào?

Ông Nguyễn Minh Quang: Vấn đề đặc biệt quan tâm đối với lãnh đạo trong tỉnh là, phải giải quyết được nguồn nhân lực mới có thể đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao tại địa phương. Muốn nâng mặt bằng tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số lên ngang bằng với đồng bào trong cả nước, dứt khoát phải hoàn thành phổ cập trình độ trung học cơ sở, tiến tới phổ thông trung học trong vòng 5 năm tới.

Tỉnh hiện nay đã đạt được chỉ tiêu 25% lao động được đào tạo. Lực lượng cán bộ dần dần trưởng thành, nhưng ở cơ sở còn rất khó khăn. Đây là điều khó, vì đào tạo chính trị không khó, nhưng đào tạo chuyên môn khó, vì phải theo đúng chế độ công chức. Tổ chức cơ sở Đảng cũng đang đặt ra yêu cầu mới nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Cho nên chúng tôi đã cân đối hài hòa cán bộ 20 dân tộc trong tỉnh, nhất là bố trí cán bộ dân tộc tại chỗ cho sát với dân.

Một nhiệm vụ đặc biệt khó đối với tỉnh Lai Châu là còn 5/7 huyện, thị xã nằm trong diện 30A (62 huyện nghèo nhất nước) là Mường Tè, Sìn Hồ, Phong Thổ, Tân Uyên và Than Uyên. Bởi thế, đồng bào các dân tộc Lai Châu rất vui mừng khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng quyết định chính sách rất hợp tình, hợp lý, hợp lòng đồng bào Mông tại đây. Các chính sách cục bộ như cấp tấm lợp, bể nước, con bò… đều quí, nhưng lần này là cả một chính sách đồng bộ đủ mạnh, chắc chắn sẽ phát huy được sức mạnh và hiệu quả trong việc sắp xếp và tổ chức lại đời sống và sản xuất của đồng bào.

Được Chính phủ hỗ trợ, tỉnh tìm tòi các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp, sẽ thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao dần trình độ nhận thức, tạo nguồn nhân lực có chất lượng.

Mặt khác, chúng tôi đã và đang chuẩn bị sẵn sàng các hoạt động kinh tế tại 2 cửa khẩu Kim Bình và Bình Hà, ngoài cửa khẩu Ma Lu Thàng đang hoạt động.

Chúng tôi mở rộng cửa đón nhận các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đón nhận các tài năng của đất nước đến với Lai Châu, để cùng vượt qua khó khăn trước mắt, chung sức xây dựng Lai Châu thành tỉnh giàu mạnh, cùng chia sẻ lợi ích lâu dài.

** Xin cảm ơn ông./.                  

Trần Lê (thực hiện)

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu