Cập nhật lúc : 5:50 PM, 15/03/2009

Đông y trị chứng đại tràng hư hàn

Chứng đại tràng hư hàn là chỉ dương khí suy nhược, hàn trọc tụ lại ở đại tràng dẫn đến đại tràng mất chức năng mà gây ra nhiều chứng bệnh, ta thường gọi là đại tràng hư lạnh.

Chứng này thường do phú bẩm dương hư, hoặc ăn nhiều thức ăn sống, lạnh, hoặc do ốm lâu ngày tổn thương dương khí khiến cho đại tràng khí hư hàn tà lưu lại ở trong mà gây ra bệnh.

Triệu chứng lâm sàng

Đau bụng âm ỉ, thích ấm, ưa xoa bóp, chân tay lạnh, sôi bụng, đại tiện lỏng thường như phân vịt, có mùi tanh, có khi cả nước, có khi sền sệt, ngày đi 2 đến 3 lần, hoặc ngược lại táo bón đại tiện không ra, cũng có lúc mệt mỏi trong người, khó chịu và thường tiết tả liên tục, có trường hợp thoát giang không co lên được, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm trì, người bệnh đoản hơi khó thở.

Tuy nhiên cần phân biệt hai chứng đại tràng tân khuy với chứng đại tràng hư hàn. Cả hai chứng đều thuộc hư chứng.

- Chứng đại tràng tân khuy do âm dịch bất túc. Đại tràng mất đi sự nhu nhuận, sự nhu động không thông cho nên đại tiện táo kết, khó bài tiết, phần nhiều do tuổi cao âm hư hoặc do bệnh nhiệt chứng làm hao tổn tân dịch. Đối với phụ nữ sau khi sinh, tổn thương huyết phận mà gây nên. Triệu chứng của đại tràng tân khuy là: miệng khô, họng ráo, lưỡi đỏ không có rêu, hoặc ít rêu, mạch tế sác…

Còn đối với chứng đại tràng hư hàn là do dương khí bất túc, thiếu khả năng sưởi ấm, hàn khí từ bên trong sinh ra, dồn nén xuống dưới mà sinh ra chứng tiết tả, khi dương khí quá suy, hàn trọc ngưng tụ lại làm tắc nghẽn khí cơ trong dương khí, tạo ra dương khí không dủ cho nên sự vận hóa bị suy kém, làm mất chức năng truyền đạo mà sinh ra chứng táo bón. Đại tiện phân không khô, nhưng chân tay lạnh, bụng đau, thích chườm ấm, rêu lưỡi trắng, miệng nhạt, mạch tram trì. Đó là những lý do để phân biệt chẩn đoán giữa hai chứng.

- Phân biệt giữa chứng tỳ vị dương hư với chứng đại tràng hư hàn.

Tỳ vị với tiểu tràng, đại tràng là gốc của kho đụn, cho nên chứng tỳ vị dương hư với chứng đại tràng hư hàn có chỗ giống nhau nhưng cũng có chỗ khác nhau.

Tỳ vị là cái bể chứa thủy cốc, do tỳ vị hư, thức ăn không nấu nhừ được cho nên trở ngại đến sự vận hóa, do đó sinh ra chứng đại tiện lỏng, có khi lẫn cả thức ăn chưa tiêu hóa, ăn uống kém, sau khi ăn bụng trướng đầy, vị trí bệnh thường ở trung tiêu.

Đối với chứng đại tràng hư hàn, bệnh ở vị trí hạ tiêu thường có triệu chứng sôi bụng, đại tiện lỏng, hoặc có khi ngược lại là đại tiện bí kết, không có hiện tượng đầy bụng, ăn vào tiêu hóa nhanh.

Điều trị

Do đại tràng hư hàn mà sinh ra chứng kiết tả

Biểu hiện: Sau khi ăn muốn đi đại tiện ngay, phân lỏng, lượng ít, có khi đi xong lại mót đi lần nữa, có khi ra nguyên cả thức ăn chưa tiêu hóa, chân tay lạnh.

Phương pháp điều trị: Tán hàn chỉ tả.

Bài thuốc thường dùng: “Phụ tử lý trung hoàn gia giảm”: Nhân sâm 8 g, can khương 8 g, cam thảo 4 g, bạch truật 12 g, phụ tử 6 g.

Tùy chứng và sức khỏe của bệnh nhân mà dung liều lượng và gia giảm cho phù hợp. Ngày uống 1 thang sắc 3 lần uống 3 lần trước khi ăn.

Chứng đau bụng âm ỉ do đại tràng hư hàn

Biểu hiện: Đau bụng âm ỉ, thích ấm, thích xoa bóp, chân tay lạnh, sợ lạnh, bụng sôi, đại tiện phân lỏng.

Phương pháp điều trị: Ôn trung, khu hàn, giảm đau.

Bài thuốc thường dùng: “Hoàng kỳ kiến trung thang”: Hoàng kỳ 12 g, quế chi 8g, cam thảo 4 g, bạch thược 8 g, đại táo 3 quả, sinh khương 3 lát, di đường 20g. Có thể gia bạch truật 12 g, bạch linh 12, bào khương 6g. Ngày 1 thang sắc uống 3 lần trước khi ăn, uống khi thuốc còn ấm.

Chứng đại tiện bí kết do đại tràng hư hàn

Thường gặp ở người già yếu dương khí hư tổn tại trung và hạ tiêu, không đủ khả năng sưởi ấm làm cho hàn tả ngưng đọng, trọc âm tụ lại bên trong lấn át khí cơ, làm cho sự truyền đạo của đại tràng khó khăn, đại tiện sáp trệ khó bài tiết mà sinh ra bệnh.

Biểu hiện: Bệnh nhân đau bụng liên miên, có khi đau dữ dội, thích nóng và chườm ấm, bệnh thường gặp ở người lớn tuổi.

Phương pháp điều trị: Ôn dương, trợ khí, tán hàn.

Bài thuốc thường dùng: “Thiên thai ô dược tán”: Ô dược 12 g, mộc hương 6 g, tiểu hồi hương 8g, xuyên luyện tử 8g, lương khương 8g, tân lang 6, thanh bì 12, ba đậu 3 hạt.

Có thể giảm thanh bì, xuyên luyện tử.

Gia: Hỏa ma nhân 12 g, đương quy 12g, nhục quế 4, nhục thung dung 12g.

Ngày 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn, khi thuốc còn ấm./.

Theo Sức khỏe & Đời sống

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng