Trao đổi với VOV online về việc các hãng sữa lấy lý do giá nguyên liệu đầu vào, mà chủ yếu là nhập khẩu, gia tăng để tăng giá sữa, ông Nguyễn Đăng Vang – nguyên Phó Chủ nhiệm UB Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khẳng định: “Việc tăng giá vừa qua không phải do nguyên liệu sữa nhập khẩu cũng không phải hoàn toàn từ thuế đối với nguyên liệu sữa”.
Sữa nguyên liệu thế giới giảm 5%
PV: Thưa ông, lý do các DN kinh doanh sữa đưa ra để tăng giá bán sản phẩm lần này có thuyết phục hay không?
Ông Nguyễn Đăng Vang: Theo số liệu thống kê trên thế 3 thị trường sữa lớn nhất thế giới là Australia, Tây Âu, New Zealand và Mỹ, giá sữa nguyên liệu trong 6 tháng qua không tăng, thậm chí hơi giảm. Thông thường, các công ty nhập 1 đợt nguyên liệu sữa trong vòng 3-4 tháng rồi lại nhập một đợt mới. Giá sữa tháng 11/2011 ở thị trường Australia và New Zealand sữa bột gầy là 3.200 – 3.700 USD/tấn, sữa nguyên kem thì đắt hơn, khoảng 3.400 – 3.800 USD. Trong những tháng đầu năm 2012, giá sữa còn 3.250 USD – 3.700 rồi giảm xuống còn 3.200 – 3.500 USD, trung bình khoảng 100 USD/tấn (khoảng 2,5%).
Còn thị trường Tây Âu, cùng thời điểm đó, sữa gầy có giá 3.150 – 3.400 USD và sữa nguyên kem có giá 3.920 – 4.200 USD/tấn. Và giảm dần đến tháng 2, sữa gầy còn 2.900 – 3.120 USD và sữa nguyên kem 3.700 – 3.825 USD. Cả sữa gầy và nguyên kem đều giảm khoảng 2,5%. Chính vì vậy, không thể nói nguyên nhân nguyên liệu sữa bột trên thế giới tăng. Còn các sản phẩm khác có bổ sung các vi chất, vitamin hay khoáng, vi lượng khác... lại chiếm một vị trí rất nhỏ, không đóng vai trò quyết định.
PV: Liệu có phải chúng ta đang áp dụng chính sách thuế quá cao đối với sản phẩm này, thưa ông?
Ông Nguyễn Đăng Vang: Vào nửa đầu năm 2011, để chống lạm phát, chúng ta đã giảm thuế nhập khẩu tương đối mạnh. Nếu theo qui định WTO, lúc Việt Nam bắt đầu tham gia ký kết vào năm 2005, sữa nguyên liệu có thuế suất 20% thì đến 2012 chỉ còn 18%, sữa thành phẩm từ 30% xuống còn 25%. Còn nếu nhập từ các nước ASEAN thì thuế suất chỉ còn 5%. Đến nay, chúng ta không thể nói rằng thuế suất của ta phải cao hơn qui định của WTO mà chỉ có thể thấp hơn. Vì vậy, theo quan sát của tôi, Nhà nước ta không có quan điểm đánh vào thuế.
Việc tăng giá vừa qua không từ nguyên liệu sữa nhập khẩu cũng không phải hoàn toàn từ thuế đối với nguyên liệu sữa. Còn thuế với các loại khác thì cần tìm hiểu thêm. tỷ lệ rất nhỏ trong cấu thành giá sữa, không phải là yếu tố quyết định.
Giá tăng do sính hàng ngoại
PV: Vậy theo ông, đâu là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng giá sữa?
Ông Nguyễn Đăng Vang: Theo tôi có nhiều nguyên nhân khiến giá sữa tăng, nhưng có lẽ do sức tiêu thụ trong nước tăng quá mạnh. Ví dụ, từ năm 2010 sang 2011, năm 2011 nhập khẩu sữa và các sản phẩm sữa nhiều hơn so với 2010 tới 37,3% (năm 2010 nhập 708 triệu USD nhưng 2011 nhập tới 848 triệu USD, tăng 19,7%). Còn năm 2010 lại nhập khẩu cao hơn 2009 tới 37,3%. Như vậy, có thể thấy tiêu thụ sữa rất cao, trong khi GDP chỉ tăng trưởng hơn 6%, nhu cầu sữa tăng gấp 4 lần GDP. Trong khi đó sản xuất trong nớc năm 2011 được 340.000 tấn sữa, chia trung bình được 4 lít/người/năm, đáp ứng được 26% nhu cầu. Như vậy, tăng trưởng chủ yếu là vào nhập khẩu. Đàn bò trong nước chỉ tăng 11%, sữa sản xuất trong nước tăng 12,7%, thế nhưng sữa nhập khẩu tăng trung bình khoảng 28%. Sức mua cao là động lực để người ta thấy bán đắt hàng thì có thể tăng giá.
 |
| Người Việt Nam thích sữa ngoại hơn sữa nội - ông Nguyễn Đăng Vang |
PV: Ngoài sức sản xuất trong nước còn non yếu thì nguyên nhân nào nữa khiến sữa nhập khẩu tăng mạnh nữa, thưa ông?
Ông Nguyễn Đăng Vang: Nhận thức của người Việt Nam về sữa đã được cải thiện nên họ sẵn sàng bỏ tiền của ra để đầu tư cho con ăn - học và đặc biệt quan tâm đến sữa. Thế nhưng, có một cái lệch phải quan tâm là sữa mẹ rất quan trọng nhưng theo điều tra của Viện dinh dưỡng Quốc gia, trong 6 tháng đầu năm 2011, chỉ có 19,4% trẻ em được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ. Cái lệch thứ hai là chúng ta vẫn ưa sữa ngoại nhiều hơn. Theo thống kê, sữa ngoại nếu qui đổi ra sữa nước từ sữa bột thì trung bình có giá từ 72.000 – 105.000 đồng/lít sữa, trong khi sữa tươi chỉ có giá khoảng 35.000 đồng/lít. Còn sữa bột trong nước sản xuất (dielac, enfamama...) thì có giá từ 42.000-45.000 đồng/lít, tức là sữa ngoại 100 đồng thì trong nước 60 đồng. Trong khi đó, sữa của Việt Nam vẫn xuất khẩu đi các nước khác, ví dụ Vinamilk xuất khẩu khoảng 22,3 triệu USD trong tháng1/2012, Công ty sữa quốc tế xuất khẩu sang các nước Arab... Tại sao các nước khác chấp nhận sữa của Việt Nam mà chúng ta lại đi nhập sữa về, trong khi nước ta còn nghèo.
Tháng 1/2012, nhập khẩu sữa tăng 56,3% so tháng 1/2011. Trong khi nhập khẩu cả nước ta hiện nay giảm so với tháng 1/2011 (giảm 18,7%). Thế nhưng nhập khẩu sữa lại tăng cao hơn trung bình năm 2011 là 19,7%. Việc tăng nhập khẩu cũng tác động vào giá sữa trong nước.
Những yếu tố như giá điện, cước vận tải... cũng ảnh hưởng một phần đến giá sữa. Thế nhưng các yếu tố này không phải là yếu tố quá lớn trong cấu thành giá sữa.
Cần một cơ quan điều phối giá sữa quốc gia
PV: Vậy chúng ta phải làm gì để giải quyết bài toán mất cân đối giữa sản xuất - xuất – nhập khẩu và tiêu dùng hiện nay, thưa ông?
Ông Nguyễn Đăng Vang: Chúng ta cần phải có một cơ quan, bộ phận thường xuyên kiểm tra vấn đề giá sữa. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, hầu như nước nào cũng có một Ban điều phối quốc gia về sữa. Ban này có 3 thành phần chủ lực, quan trọng nhất là đại diện cho cơ quan bảo vệ người tiêu dùng; đại diện cho các nhà sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, chế biến và cơ quan quản lý Nhà nước. Khi giá sữa lên thì hỏi cơ quan này chứ không thể hỏi một mình cơ quan Nhà nước hay người tiêu dùng. Cơ quan này phải thường trực, thường xuyên báo cáo để nắm được số liệu thế giới, trong nước và họ điều tiết vấn đề này để giá cả hợp lý, giúp cho người sản xuất không bị thua lỗ nếu anh cạnh tranh lành mạnh.
Ví dụ trong thời gian này sản phẩm nào bán rẻ thì sẽ đông khách, nhưng tâm lý của người tiêu dùng thì cho rằng chưa chắc hàng rẻ đã tốt. Vì thế, Ban điều phối quốc gia phải có chính sách tuyên truyền để người tiêu dùng hiểu biết sử dụng sữa đang bán với giá cạnh tranh. Như vậy mới tạo cạnh tranh thực sự và không ai “làm giá” được. Làm được điều này sẽ đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng, khách quan cho người sản xuất cạnh tranh lành mạnh, cơ quan Nhà nước rất thảnh thơi chỉ cần đưa ra các chính sách phù hợp.
PV: Xin cảm ơn ông!/.