Cập nhật lúc : 9:16 AM, 11/02/2010

“Mắt ngọc” Thăng Long

Ở làng Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội hiện còn một số chiếc giếng được đào vào thời điểm cách đây gần 900 năm. Mỗi chiếc giếng mang một sự tích, ý nghĩa lịch sử,  văn hóa, tâm linh khác nhau.  

Bạn tôi người gốc Tả Thanh Oai, Thanh Trì, về quê lên cứ thở dài sườn sượt, rồi than thở rằng hụt hẫng quá, khi mấy cái giếng cổ một thời là biểu tượng của làng giờ thay đổi đến mức không nhận ra… Cộng thêm một chút tò mò khám phá, một chút mong muốn được góp tiếng nói trong việc bảo tồn những giá trị truyền thống… Chúng tôi bắt đầu hành trình tìm hiểu về những “mắt ngọc”, những chiếc “gương phản chiếu trời và đất”…

Giếng làng

Trong hành trình này, bạn tôi, lại cũng là một đồng nghiệp bỗng chốc trở thành hướng dẫn viên và đương nhiên, điểm đầu tiên mà chúng tôi lựa chọn để tới là làng Tả Thanh Oai. Chỉ nằm cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 20 km về phía Nam, Tả Thanh Oai từng được mệnh danh là làng khoa bảng với 12 người đỗ đại khoa. Đây còn là quê hương của họ Ngô với dòng Ngô Gia Văn Phái và các danh nhân Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm đã đi vào lịch sử đất nước. Hiện trong làng còn lưu giữ được một hệ thống giếng cổ khá phong phú. Đầu tiên phải kể đến giếng Ngọc phía sau đình Hoa Xá.

Tương truyền, giếng Ngọc được đào cùng với thời điểm xây dựng đình cách đây gần 900 năm. Nằm cách giếng Ngọc chừng hơn 1 km đường vòng là giếng Miếu Ông. Sở dĩ được gọi là Miếu Ông, bởi kề miệng giếng là một ngôi miếu nhỏ, thờ một vị tướng người làng đã có công “dẹp Tống bình Chiêm”. Cả hai giếng đều nằm kề bên sông Nhuệ, đều là giếng đất, rộng chừng hơn 100m2. Xưa nước giếng quanh năm trong mát, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân quanh vùng. Hơn nữa, trong cách nghĩ truyền thống, giếng là nơi tụ thủy, mà thủy lại được coi là huyết mạch của long. Giếng có bắt đúng long mạch là nơi hà thủy hợp lưu hay không, nông sâu thế nào đều có quan hệ họa phúc. Vì thế, cũng không có gì lạ khi giếng luôn gắn bó với con người như một thứ tâm linh. Ở giữa làng Tả Thanh Oai, còn có giếng chùa Thắm, giếng nằm trên đất chùa.

Ảnh chỉ mang tính minh họa

Theo ông Nguyễn Xuân Ngọc – Chi hội trưởng Hội người cao tuổi Tả Thanh Oai, chiếc giếng này do danh nhân Ngô Thì Sĩ đào cùng thời điểm dòng họ Ngô cung tiến, xây dựng chùa cách đây chừng 300 năm… Hiện tại, những chiếc giếng ở Tả Thanh Oai đã thay đổi rất nhiều so với thời điểm vài chục năm về trước. Vào khoảng năm 1978, khi nước sông Nhuệ bắt đầu đổi màu, sự ô nhiễm theo mạch nước ăn vào giếng làng. Lại thêm cuộc sống lúc đó cũng đã khấm khá lên, đa phần các nhà đều đã có giếng riêng. Vì thế, giếng làng bị bỏ bẵng, ô nhiễm và rác thải tràn xuống, lấp dần… Mãi đến năm 2003, xót ruột quá, các cụ cao niên trong làng đã đứng ra vận động quyên góp khơi lại giếng Ngọc, giếng Miếu Ông. Rồi kè đá xung quanh. Chính cái việc kè đã vô tình lấp đi mạch giếng. “Nhưng không làm thế, thì cũng chả còn cách nào khác” ông Nguyễn Xuân Ngọc phân bua. Giếng chùa Thắm giờ cũng đã được kè lại cẩn thận, dưới thả bèo Nhật Bản, thành ra, nếu không được cậu bạn người làng dặn trước: “Đó là cái giếng”, thì những người lạ, lần đầu đến với Tả Thanh Oai như tôi chắc sẽ bảo rằng “Đó là ao”…

Các cụ cao niên ở đình Hoa Xá kể rằng, còn một cái giếng nữa ở ngay đầu làng, đó là cái giếng được đào ở vị trí quan trọng nhất làng. Nhưng giờ thì nó đã bị lấp để lấy chỗ xây nhà trẻ.

Rời Tả Thanh Oai, qua sông, chúng tôi tới xã Hữu Hòa. Hữu Hòa còn 2 giếng cổ, một ở đầu làng, một ở cuối làng. Cả hai đều có những cái tên rất thơ – giếng Chung Thanh và Đại Khang. Là giếng đất, rộng chừng hơn 200m2, lại nằm sát đường, giếng Chung Thanh giờ đã thành ao. Bậc lên xuống, được xây bằng gạch vồ đỏ, giờ đã bị rác thải đổ, lấp gần hết. Một nửa được quay lại thả rau muống…

Nồng hậu và nhiệt tình như bao người nông dân nơi làng quê khác, bên bờ giếng, vừa tuốt rửa rau cần, mấy cô, bác kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện đáng tự hào về giếng. Rằng xưa kia, phải làng nào giàu lắm mới có những chiếc giếng với những bậc lên xuống bằng gạch vồ và đá xanh thế này. Nước giếng ở đây trong lắm, ít đâu sánh bằng, nước ấm về mùa Đông và mát về mùa Hè. Rồi làng còn có tục lệ, phụ nữ “đến tháng”, cấm không được lảng vảng gần giếng… Nhưng rồi những ngày tháng đó đã qua. Những chiếc giếng làng giờ đã hoàn thành vai trò lịch sử. Vẫn hiện hữu, nhưng chức năng sử dụng giờ đã thay đổi.

Giếng đá

Rời Hữu Hòa, chúng tôi cứ men theo bờ sông Nhuệ mà đi, qua làng cổ Cự Đà, rẽ ra đường lớn tới thị trấn Thạch Bích rồi cứ thẳng đường tới thôn Long Châu, xã Phụng Châu của huyện Chương Mỹ. Nằm sát chân núi Trầm, dường như cuộc sống ồn ào và bụi bặm ở ngoài đường lớn kia chưa ảnh hưởng nhiều đến khung cảnh và cuộc sống của người dân nơi đây. Lâu lắm rồi tôi mới lại bắt gặp hình ảnh người dân ra giếng làng, gánh nước về dùng.

Ảnh chỉ mang tính minh họa

Ông Nguyễn Bá Quân - một người dân trong thôn kể, giờ ở thôn Long Châu, nhà nào cũng đào giếng, khoan giếng cả, nhưng lạ cái, cứ vào mùa khô, nhiều giếng mới đào cạn sạch nước. Trong khi đó, mạch nước giếng Chùa ở ngay đầu làng vẫn chảy tràn. Những người già ở Long Châu cho rằng, có lẽ giếng chính là nơi tụ thủy của những mạch nước núi Trầm. Toàn bộ thành giếng, được kè bằng những phiến đá xanh vuông vức, gắn khít với nhau bởi những mạch vừa mảnh như sợi chỉ. Cuối thôn Long Châu, trước miếu cổng làng cũng có một chiếc giếng với thành đá thấp, có hình dạng như bông hoa sen. Xung quanh thành giếng được chạm khắc hoa văn. Giếng được xây bằng gạch vồ xen kẽ với đá. Nước giếng này cũng đầy và trong như giếng Chùa vậy.

Ở phía Tây của kinh thành Thăng Long xưa, làng cổ Xuân Tảo (nay là Xuân Đỉnh – Từ Liêm) cũng là nơi đang lưu giữ một hệ thống giếng đá cổ. Giếng làng Giàn (tên nôm của thôn Cáo Đỉnh) được xây bằng những phiến đá lớn. Khác với giếng ở thôn Long Châu-Chương Mỹ, các tảng đá này không nhẵn bóng mà sần sùi như đá ong, với nhiều khe, rãnh…

Ông Dương Văn Tân – Trưởng ban Văn hóa xã Xuân Đỉnh, cũng là người dân gốc của làng kể lại rằng, cách đây gần 30 năm, khi còn là thanh niên, ông vẫn ra giếng gánh nước, tắm giặt. Ngày đó nghịch ngợm, mỗi khi làm rơi gầu múc nước, ông cùng đám bạn vẫn nhảy xuống để mò. Lạ là, ở dưới lòng giếng còn có một phiến gỗ lim rất to và bằng phẳng. Trên thành giếng, do những vết dây gầu kéo nước từ đời này sang đời khác thít vào, đá mòn thành từng rãnh, có chỗ ăn sâu vào tới 5 – 6cm. Theo truyền thuyết, thì giếng làng Giàn có từ thời Mã Viện đem quân sang xâm lược nước ta. Cũng có nhiều nhà nghiên cứu, khi đến thăm làng cho rằng, giếng được đào vào khoảng những năm 1016 – 1018 cùng thời điểm khởi dựng đình Giàn. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận xét hết sức mơ hồ, bởi cho tới thời điểm hiện tại, chưa có nhà nghiên cứu nào đặt vấn đề nghiên cứu giếng đá làng Giàn. Ông Dương Văn Tân cho rằng, giả thuyết giếng được xây cùng thời điểm với chùa là khá hợp lý. Bởi đã thành phong tục, mỗi dịp đầu xuân, trước ngày hội làng, bao giờ cũng có một lễ rước nước tắm thánh từ chiếc giếng này về tới đình. Nghi lễ đó tồn tại cho tới bây giờ.

Nằm kề bên miếu Vũ thôn Nhang (tương truyền miếu được khởi dụng vào thời Lý, đây là nơi thờ hai vợ chồng ông bà Vũ Phục người làng Thượng Cát đã gieo mình xuống sông để chữa bệnh đau mắt cho vua Lý) cũng có một chiếc giếng đá. Khác với giếng làng Giàn, thành giếng thôn Nhang không cao, chỉ chừng 30 cm, được tạo bằng đá liền khối. Thành miệng giếng cho nhiều vết lõm sâu. Đây cũng là dấu tích đời này sang đời khác, dây gầu kéo nước ghì vào mà thành. Giờ giếng nước thôn Nhang đã không còn được sử dụng, để phòng trẻ con nghịch ngợm và cũng là để tránh những tai nạn đáng tiếc. Người dân ở đây đã dùng một miếng bê tông đậy lên miệng giếng. Ghé mắt qua khe hở trên miệng giếng, tôi vẫn còn thấy nước chảy tí tách bên dưới.

Ông Nguyễn Vạn Nghi (86 tuổi), nhà ở liền kề với giếng kể lại rằng, xưa cứ vào ngày 15/3 âm lịch hàng năm, người dân trong thôn lại tổ chức lễ kỳ an cầu mát, có một việc không thể thiếu trong nghi lễ này là: Thau giếng. Những trai làng mạnh khỏe, chưa vợ được tuyển chọn để xuống thau giếng và ông cũng có vài lần được lựa chọn làm công việc linh thiêng này. Ông Nghi kể, dưới đáy giếng được lát bằng 2 ván gỗ rất to. Giếng sâu chừng 9m, vào mùa khô, nước giếng chỉ cạn đi đôi chút. Nhưng cứ vào tháng 6 hàng năm, thì nước dềnh lên, tràn cả ra miệng giếng. Đến năm 1970, ở Xuân Đỉnh có phong trào đào giếng, thêm 20 giếng nước nữa được đào. Rồi khoảng những năm 1990 khoan giếng phát triển, vì thế vai trò của các giếng làng không còn được phát huy. Giếng dần bị bỏ hoang. Vài năm trở lại đây, nhiều người trong thôn bàn đến chuyện lấp giếng đi, nhưng những người già trong làng nhất quyết không đồng ý.

Giếng Hoàng Thành

Nhắc đến những “mắt ngọc” của Thăng Long, nếu không nói đến hệ thống giếng cổ được phát hiện tại khu Di chỉ khảo cố 18 Hoàng Diệu hẳn sẽ là một thiếu sót lớn. Theo thống kê, chỉ riêng khu A – B, trong đợt khai quật bắt đầu được tiến hành vào năm 2003, đã có tới 14 chiếc giếng được tìm thấy, trong đó có 2 giếng thời Đại La, 3 giếng thời Lý, 2 giếng thời Trần, và 7 giếng thời Lê. Chiếc giếng đầu tiên xuất lộ gây tiếng vang lớn nằm ở hố B9 có niên đại tới 1.300 năm, sau này nhiều nhà nghiên cứu vẫn quen gọi là giếng Đại La.

Theo Tiến sĩ Bùi Minh Trí – Thư ký Dự án Khai quật khảo cổ học Hoàng Thành Thăng Long, khi phát lộ, giếng nước này không chỉ gây ngạc nhiên cho giới khảo cổ mà còn góp phần lý giải nhiều điều thú vị. Thú vị ở chỗ, vị trí của nó, nằm ngay bên thềm một con sông vào thời Lê, vậy mà nó vẫn còn nguyên vẹn. Thứ nữa, giếng được xây bằng gạch xám, nhưng trên miệng lại có thêm hàng gạch đỏ, đặc trưng thời Lý. Điều này khẳng định, giếng có từ thời Đại La, nhưng được tái sử dụng vào thời Lý. Đến khoảng thế kỷ XI, giếng bị lấp đi để lấy chỗ xây dựng một công trình kiến trúc. Sự có mặt của giếng cũng góp phần khai quang vấn đề về vị trí của An Nam đô hộ phủ. Khi phát hiện, lòng giếng phủ đầy đất. Các di vật đều thuộc thời Lý với nhiều vò, sành còn nguyên vẹn, cùng các mảnh lá đề, chim phượng tinh xảo… Giếng sâu tới 5,9 m, vì thế 5 công nhân đã phải làm việc trong nhiều tuần mới đưa được hết số đất đá và di vật nằm sâu dưới lòng giếng từ gần 1.000 năm lên. Sau khi khơi và được làm sạch, chỉ một thời gian nắng sau, nước giếng về đầy và trong. Chính điều này đã khiến nhiều du khách tới thăm Hoàng Thành không khỏi tò mò. Nhiều người múc nước lên uống trực tiếp. Có người xin nước về đặt trên bàn thờ và coi đó như sinh khí của Hoàng Thành Thăng Long. Cũng có một giếng Đại La nữa được phát hiện tại khu B. Tuy nhiên, toàn bộ lòng giếng bị một trụ sỏi thời sau chồng lên, vì thế không phục hồi lại được. Giếng thời Lý ở Hoàng Thành thường được lát bằng gạch đỏ, giếng thời này đào không sâu, chỉ chừng hơn 2m, lại là giếng mạch ngang, vì thế phần lớn bị cạn nước vào mùa khô.

Vào năm 2004, thêm một chiếc giếng khá đặc biệt nữa đã được các nhà khoa học tìm ra. Giếng có niên đại thời Lê nằm ở phía Bắc khu A, giáp đường Hoàng Văn Thụ. Khi phát hiện, trong lòng giếng có chứa nhiều đồ gồm sứ cao cấp, cùng một số mảnh vỡ của gầu, dây kéo. Điều đặc biệt là, những sợi dây kéo này được làm bằng chất liệu nilon, bện tết khá cầu kỳ. Các mảnh gầu ở đây bằng gỗ, và đều được sơn son thếp vàng và có đai sắt. Rất tiếc, trải qua thời gian dài, hoa văn trên các mảnh gầu đã bị mờ đi. Sự phát hiện quan trọng này đã đưa đến khẳng định giếng thuộc “đẳng cấp cao”. Hiện, các mảnh gầu này đang được bảo quản, trong tương lai sẽ được phục chế lại theo đúng nguyên bản…./.

Theo An ninh Thủ đô

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng