Nếp sống là lối sống hoặc một bộ phận của lối sống được lặp đi lặp lại thành nền nếp, thói quen, nghĩa là được định hình, định tính, được xác lập giá trị thành một nét văn hóa được cá nhân và cộng đồng thừa nhận, làm theo và quy định thành điều ước hoặc luật pháp. Nếp sống lâu đời có thể trở thành phong tục tập quán.
Theo Giáo sư Vũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng của mỗi con người. Những thói quen ấy còn gọi được là tập quán”.
Nếp sống của người Hà Nội thực chất là nếp sống quốc gia được thu lại, tinh chế và nâng cao từ các đặc trưng phong tục, tập quán, các nét tâm lý riêng, các sắc thái và phong cách văn hóa địa phương thuộc các vùng miền khác nhau trong cả nước. Mặt khác, nếp sống Kinh đô cơ bản vẫn là sự kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa của Đại La - Thăng Long - Hà Nội. Sự thu lại, sự tinh chế và nâng cao đó phải qua sự chọn lọc, qua sự thẩm định của truyền thống đạo đức, văn hóa của bản thân Thăng Long - Hà Nội, để trở thành nếp sống, Thăng Long - Hà Nội.
Thời Lý
Trong Chiếu dời đô mùa Thu năm 1010, Vua Lý Công Uẩn đã viết: “… Thành Đại La ở vào nơi trung tâm trời đất được các thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây lại tiện hướng nhìn sông, nhìn núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta chỉ có đây là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
Trên cơ sở của hình thế núi sông và vị trí của Thành Thăng Long, nhà Lý đã biết phát huy về tư tưởng cộng đồng, tư tưởng về chủ quyền đất nước để xây dựng một nền văn hóa nhân hậu, hòa bình, mà nếp sống Kinh kỳ Thăng Long là tiêu biểu.
Nếp sống của người dân Kinh thành Thăng Long thời Lý có thể chấm phá ở một số nét. Về quần áo và trang sức: Vua mặt áo vàng, quần tía, răng đen, búi tóc cài trâm vàng, ở nhà lầu bốn tầng, cột sơn son vẽ rồng hạc và tiên nữ. Quan liêu, sĩ tử mặc áo dài thâm, cổ áo vòng khít, áo 4 vạt (tứ thân), quần thâm, búi tóc, cài trâm sắt. Chân đi dép da, tay cầm quạt cài lông hạc, đầu quấn khăn sa đen. Quân sĩ đóng khố, cởi trần. Quan cấm vệ được thích rồng ở đai, xăm ở ngực. Dân thường mặc màu thâm hoặc sắc trắng, áo cánh viền cổ nhỏ, tai đeo khuyên bạc. Mọi người đều đi chân đất, nhuộm răng đen, đàn ông ai cũng xăm mình và biết chèo thuyền, bơi lội.
Về sinh hoạt văn hóa, văn nghệ: Nhà Lý trọng văn và trọng võ. Thăng Long có giảng võ đường, có trường đấu voi và đấu hổ. Mùa Thu có các trò diễn xướng, xiếc, leo dây, múa rối, hát ả đào… Thi văn diễn ra ở Trường Giám. Từ năm 1075, các vua Lý đã mở nhiều khoa thi để kén chọn nhân tài. Phần lớn cư dân Thăng Long sùng đạo Phật, các hội đình, hội chùa, hội quán thường diễn ra vào mùa Xuân hoặc mùa Thu.
Qua những đặc điểm trên có thể thấy nếp sống của dân Kinh thành thời nhà Lý là nhân hậu, hòa bình, vẫn mang nhiều nét văn hóa xóm làng. Đó là cái tình nghĩa hồn nhiên, chất phác của văn hóa Đông Nam Á. Nếp sống cung đình phong kiến đã tách khỏi văn hóa dân gian nhưng chưa cách ly dân mà vẫn thân dân. Cái ăn, cái học, cái làm, cái chơi, cách suy nghĩ và tình cảm không bon chen, vụ lợi, chúng cứ tự nhiên diễn ra như một nhu cầu sống hồn nhiên, chất phác. Tâm hồn con người Kinh kỳ không khác mấy tâm hồn con người quê mùa, dẫu rằng nó không còn thô kệch. Tâm linh con người bình dị theo kiểu tu tại tâm.
 |
|
Chợ Bưởi xưa
|
Thời Trần
Khái quát đạo đức nổi bật nhất thời nhà Trần là trung nghĩa. Khái niệm trọng nghĩa được nhấn mạnh trong Hịch tướng sĩ nhằm khích lệ tướng sĩ một lòng trung quân, vì sự phát triển của chế độ quân chủ đòi hỏi con người phải tuân theo nguyên tắc. Khái niệm “hiếu” cũng được nhà Trần coi trọng, nó quy định sự phục tùng và kinh sợ vô hạn của con cái đối với cha mẹ. Nói cách khác, hiếu là sự trung nghĩa trong phạm vi gia đình. Đó chính là nền tảng cho sự trung thành tuyệt đối của bề tôi đối với nhà vua. Những khái niệm đạo đức đó góp phần củng cố chế độ phong kiến tập quyền. Song cũng như thời Lý, nhà Trần về cơ bản vẫn là thân dân, quyền lợi của vua quan thống nhất với quyền lợi dân tộc nên khái niệm trung hiếu gần với khái niệm yêu nước. Những tư tưởng đạo đức trên quy định nếp sống người Hà Nội thời nhà Trần.
Thời Trần, Phật giáo, Đạo giáo không còn được vị thế cao như trước. Nho giáo đã vươn lên chiếm vị trí khá cao trong xã hội. Nhiều nho sĩ đã được giao trọng trách trong công việc triều chính thay cho các vị sư trước kia. Nếp sống của người dân Thăng Long thời Trần về đại thể được khắc họa qua vài nét về trang phục: Vua búi tóc, dùng the bọc và buộc lại, tóc hai bên để lộ và xõa xuống. Quan lại đi dép da, trùm đầu bằng khăn lụa xanh thẫm. Vua và các vương hầu đại thần dùng các vải màu xanh, đỏ, vàng, tía để may quần áo. Người dân chủ yếu đi chân đất, rất ít người đi dép da. Đàn ông cạo trọc đầu, trùm khăn anh, đàn bà búi tóc trên đỉnh đầu. Đàn ông và đàn bà đều mặc áo đen, riêng đàn bà có lần vải trắng ở trong để may viền áo và cổ áo.
Một biểu hiện của đời sống thị dân Thăng Long là sinh hoạt ban đêm như buôn bán đêm, thú ăn đêm và đi chơi đêm. Uống trà trở thành nếp phổ biến từ vua quan cho đến thứ dân. Những lễ hội và sinh hoạt văn hóa lành mạnh diễn ra khá phổ biến quanh năm và cả vào ban đêm như: Hát ả đào, đánh cờ, chèo, tuồng, ngắm trăng…
Nhìn chung so với thời Lý, đời sống văn hóa xã hội Kinh thành thời Trần mang nhiều tính “trần gian” hơn. Nét thị dân phồn thực hiện lên khá rõ thay vào nét sùng Phật trong nếp sống kinh kỳ dưới triều Lý. Tư tưởng đạo đức Nho gia như trung, hiếu, nghĩa, dũng… được đề cao và trở thành lẽ sống của cả tướng sĩ lẫn dân thường. Đặc biệt, dưới thời Trần, người Thăng Long đã dùng chữ Nôm để sáng tác văn học.
Cũng như thời Lý, nếp sống Thăng Long dưới thời Trần vẫn mang đậm tính dân gian, hài hòa với thiên nhiên và tạo vật. Nhiều hội lễ, đình đám, món ăn còn tồn tại đến ngày nay. Nếp sống Kinh thành thời Trần mang đậm triết lý dân dã của người dân đất Việt với tâm lý “rồng bay lên” và hào khí Đông A. Vì thế cho đến nay, trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam đều coi đạo đức, nếp sống thời Trần là biểu trưng tốt đẹp cho đạo đức, nếp sống truyền thống.
 |
|
Một cảnh đi thi năm 1895
|
Thời Lê
Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp nhà Trần và dời đô về Thanh Hóa, Thăng Long đổi tên thành Đông Đô. Năm 1428, sau cuộc kháng chiến chống quân Minh, Lê Lợi lại về đóng đô ở Thăng Long mang tên mới là Đông Kinh. Đây là thời kỳ chế độ phong kiến tập quyền ở nước ta đạt đến sự thịnh trị. Năm 1527, nhà Lê bị nhà Mạc thay thế, sau đó là chiến tranh Nam – Bắc triều, chiến tranh Trịnh – Nguyễn với sự phân chia đàng trong và đàng ngoài.
Nhìn chung ở giai đoạn Lê sơ, quan niệm về đạo đức làm người được triều đình phong kiến rất chú ý xây dựng trên nền tảng Nho học, bởi trong ba đạo Nho, Phật, Lão thì chỉ có Nho là đạo nhập thế. Quan điểm Nho giáo về đạo làm người phải hội đủ ba đức tính: Nhân, Trí, Dũng. Tuy nhiên, đạo “nhân nghĩa” của ta không lệ thuộc vào Nho giáo Trung Quốc mà được phát triển trên lập trường quốc gia – dân tộc để giữ nước và dựng nước.
Cũng như các triều đại trước, nhà Lê đặt ra bộ lễ để quy định việc ăn, ở, mặc, đi lại… trong xã hội. Chỉ nhà vua mới được mặc áo màu vàng. Thường dân thì mặc áo màu nâu non, nâu thẫm hay màu đen. Học trò mặc áo màu xanh lam. Màu trắng là khá thông dụng, phụ nữ thường mặc áo trắng chít khăn trắng. Từ thời Hậu Lê màu trắng dành cho tang phục.
Dưới chế độ quân chủ Hậu Lê, nếp sống của người Thăng Long bắt đầu phân hóa thành hai dòng đối lập: Nếp sống Nho giáo chính thống tồn tại trong cung đình, tầng lớp quan lại và nếp sống kẻ chợ dân gian được những thợ thủ công, người buôn bán và nông dân Kinh thành nuôi dưỡng và không ngừng làm cho phong phú. Nhà Lê dày công xây dựng một nền văn hóa chính thống gần như phân biệt và đối lập với nền văn hóa dân gian truyền thống. Về thực chất, Nho – Lão – Phật – Tín ngưỡng dân gian vẫn luôn luôn dung hòa và dung hợp với nhau. Điều này được biểu hiện ở sự dung hòa Nhà nước phong kiến tập quyền ở bên trên và nền tự trị của “dân chủ làng xã” ở bên dưới. Trên cơ sở đó, nếp sống Nho giáo chính thống dung hòa, dung hợp với nếp sống dân gian nhất là dưới thời thịnh trị Hồng Đức. Đến thời Mạc, Lê - Trịnh, Thăng Long cũng chịu chung số phận với cuộc khủng hoảng kéo dài của chế độ quân chủ chuyên chế.
Ý nghĩa tích cực của sự phân hóa và đối lập này đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa trong điều kiện có nhiều mặt sút kém và sa đọa về chính trị để Thăng Long đạt vị trí “nhất Kinh Kỳ, nhì Phố Hiến” với sự thanh lịch của người Tràng An.
 |
|
Lều chõng đi thi
|
Thời Nguyễn và Pháp thuộc
Triều Tây Sơn tồn tại ngắn ngủi đóng đô ở Phú Xuân. Nhà Nguyễn lên ngôi năm 1802, đặt quốc hiệu là Việt Nam, đóng đô ở Huế. Khi nhà Nguyễn ký hàng ước thừa nhận sự đô hộ hoàn toàn của Pháp, Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp. Có thể nói trong giai đoạn này, Thăng Long – Hà Nội đã trải qua nhiều biến cố lịch sử sâu sắc và toàn diện. Từ vị thế của một Kinh đô, Thăng Long trở thành một trấn địa, một tỉnh bình thường như các trấn, các tỉnh khác. Trong cơn vật đổi sao dời, người Hà Nội khi đó thấy được ý nghĩa của nếp sống thanh lịch gắn với Kinh đô lịch sử, văn hóa tiêu biểu cho cả nước. Đặc biệt, từ đầu thế kỷ XX, khi nền Tây học thay thế nền Nho học, Hà Nội trở thành trung tâm văn hóa, ở đây đã hình thành lối sống Hà thành. Tâm thức “Thăng Long thành hoài cổ” và sĩ khí Hà thành đã góp phần quan trọng vào việc giữ tìn và nâng cao nếp sống thanh lịch Hà Nội như một đối trọng với lối sống thị dân châu Âu đang xâm nhập vào Hà Nội.
Cho đến trước Cách mạng Tháng Tám, nếp sống thanh lịch của người Hà Nội vẫn còn tồn tại khá phổ biến. Điều này được thể hiện từ cách ăn vì suy cho cùng, ăn uống là một đặc trưng quan trọng của nếp sống. Người Hà Nội thanh lịch rất kỹ tính từ cách chế biến món ăn phải đúng mùa và phải đủ gia vị, món ăn phải thanh cảnh, tinh tế, đẹp mắt trước khi ngon miệng, đến cách ăn phải khoan thai, từ tốn…
Người Hà Nội còn thanh lịch trong cách ăn mặc. Qua các kiểu quần, áo, mũ, nón, giầy, dép… đều thấy người Hà Nội thích diện nhưng là cái diện kín đáo, tinh tế, không cầu kỳ, phô trương. Họ ưa chuộng sự gọn gàng, trang nhã. Cái ở của người Hà Nội thực ra không khác mấy so với cái ở của vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Trừ khu phố Tây, trong phạm vi Kinh thành cũ vẫn phổ biến là các làng ít nhiều được đô thị hóa. Các loại nhà tranh, nhà gỗ lợp ngói, nhà thường có kết cấu ba gian, một gian hai trái hoặc năm gian. Việc bài trí nhà cửa khá đơn sơ và ưu tiên cho sự gọn gàng.
Những hội hè, đình đám và thú vui của người Hà Nội phần nhiều tiếp nối từ thời Lý- Trần – Lê hay được tổng hợp từ thú vui chơi từ các vùng quê đồng bằng sông Hồng. Đó là các hội chùa, hội đình, hội quán, các thú chơi tranh, chơi cây cảnh, chơi chim, chơi non bộ, chơi đồ cổ, chơi cờ… Cái nếp làm ăn của người Hà Nội nổi trội trong các làng nghề thủ công trong và ngoài thành. Nổi tiếng là các nghề dệt và nhuộm lụa, vải, nghề thủ công mỹ nghệ tinh xảo, nghề làm giấy dó, nghề thêu, nghề gốm… Các phường nghề này thường tập trung ở khu vực nhất định của Thăng Long – Hà Nội và có truyền thống hàng trăm năm không dễ gì mai một.
Nhìn chung, nếp ăn, mặc, ở, chơi bời, đi lại, làm ăn của người Hà Nội dưới thời Nguyễn và Pháp thuộc đã có sự phân hóa giữa một bên là sự manh nha của lối sống Âu hóa. Lối sống Âu cũng chỉ tập trung ở một số trí thức Tây học và viên chức công sở của chính quyền thuộc địa. Trình độ văn minh giới hạn ở cái váy đầm, complê, mũ phớt, ba toong, cái xe đạp, xe kéo, xe điện và cũng chỉ giới hạn ở khu phố Tây. Đại đa số người dân Hà Nội đã biểu lộ tinh thần chống ngoại xâm bằng một nếp sống thanh lịch truyền thống.
Như vậy có thể khái quát rằng, cho đến Cách mạng tháng Tám, nếp sống của người Thăng Long – Hà Nội đã trải qua nhiều giai đoạn biến động có tính lịch sử. Giai đoạn định hình nền tảng của nếp sống thanh lịch truyền thống diễn ra ở các vương triều Lý – Trần – Lê sơ. Dưới triều Nguyễn, Hà Nội trở thành nhượng địa của Pháp, từ tính chất đô thị phong kiến, Hà Nội bị ảnh hưởng tính chất đô thị kiểu châu Âu. Mặc dù vậy, truyền thống thanh lịch của người Hà Nội được người dân lao động giữ gìn bất chấp xu hướng tư bản và lưu manh hóa trong lối sống của một nhượng địa của Pháp. Điều đó chứng tỏ truyền thống văn hóa được vun trồng từ thời Lý – Trần – Lê sơ cơ bản vẫn không bị mai một. Đó là một bằng chứng cho sức sống trường tồn của văn hóa Việt Nam./.