Nhà văn Chu Lai - Tình yêu và cuộc chiến

Với Chu Lai, tình yêu làm nên sự lãng mạn của cuộc chiến. Ông nhận ra tính nhân văn cao cả ở trong tình cảm tưởng như rất đời thường đó

Mấy chục năm hòa vào nhịp đập của cơ chế thị trường, nhưng dường như tác giả của “Ăn mày dĩ vãng” vẫn giữ nguyên vẹn khuôn hình xù xì, bụi bặm, y như người lính đặc công năm nào vừa bước ra từ cánh rừng Sác, phải lấy tay che mắt bởi thứ ánh nắng của Sài Gòn ngày giải phóng. Chỉ có khác là bây giờ, trông ông có vẻ mệt mỏi hơn.

Người lính là thế

Nhà văn bảo, 36 năm cầm bút sau sức nặng của 10 năm cầm súng, cũng… chẳng nhẹ được hơn. Có những kỷ niệm mà chỉ cần nhắm mắt vào là nó lại hiện hữu, khiến ông day dứt, khắc khoải. Ngày đó, tất cả người lính đều khoác trên mình một tâm hồn hảo hán, ra đi không hẹn ngày trở về. Chu Lai cũng vậy, bỏ lại “thánh đường” sân khấu, bỏ cả ĐH Quân y ở cầu Tó, bỏ sau lưng một vài mối tình thôn nữ…, để lên đường. Và có một khí lực tự trọng của chàng trai Hà Nội không chịu đầu hàng, trở thành một người cầm súng cho đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng 30/4/1975. Mầm mống văn chương len lỏi, ngọ nguậy trong ông cũng từ những năm tháng nếm mật nằm gai của cuộc chiến ấy.

Chu Lai viết như để tự sự với chính mình. Tự sự về chiến tranh. Nó trần trụi đến khôn cùng mà cũng lãng mạn đến khôn cùng. Hai yếu tố đó hòa quyện vào nhau, tăng sinh khí và sinh lực để ông bước tiếp. Và hơn nữa, ông viết để giãi bày, giãi bày cái bực dọc, u uất. Mà lạ lắm, càng u uất, càng giằng xé, càng vật vã, thì hơi văn, khí văn trong tác phẩm của ông càng có hồn hơn.

 Nhà văn Chu Lai thâm trầm: “Sợ nhất là văn chương cứ đuỗn đệt ra như cơm nguội phơi ba nắng, cái đáng sợ hơn là anh nhà văn luôn tự hài lòng với mình, vợ đẹp con khôn, tiền bạc rủng rỉnh, tối vắt chân ngồi xem ti vi, xỉa răng cành cạch, hết ti vi bật máy lạnh đi nằm, không thao thức, không mộng mị, sáng ra thấy cuộc sống chỗ nào cũng cứ đẹp tươi, sáng sủa. Tức là anh đánh mất năng lực giao cảm với nỗi đau của cộng đồng, tức là anh là một kẻ vô cảm”.

Đại tá, nhà văn Chu Lai tên thật Chu Ân Lai, đi học bị bạn diễu, đổi thành Chu Văn Lai, đi bộ đội đổi lần nữa thành Chu Lai để nếu có bề gì… báo tử cho gọn.

Ông sinh năm 1946 tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên nay là huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, hiện ở Hà Nội, là con trai của nhà viết kịch Học Phi.

Tính đến thời điểm này, nhà văn có khoảng 15 tiểu thuyết, hàng chục kịch bản sân khấu, điện ảnh…

Ông đã được nhận Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ trang (Hội Nhà văn) với tiểu thuyết “Ăn mày dĩ vãng” (1993); giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2007…

Hiện ông là Trưởng Ban sáng tác Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.

Tình yêu làm nên sự lãng mạn của cuộc chiến

Có lẽ chính vì cái sự “không vô cảm” ấy, mà Chu Lai được “phong” danh hiệu… người đàn ông đa tình. Rồi khối người còn đồn thổi, trong 10 năm cầm súng, mỗi cuộc hành quân mới, ông lại nảy sinh một mối tình. Nhưng ông chỉ cười, bảo rằng thấp thoáng thôi, vì “trai Hà thành vốn lãng mạn ý mà”.

Chu Lai kể, hồi đó, ông mới 21 tuổi, chạy như ngựa trên quãng đường hành quân của trận chiến đấu mới. Cứ mỗi đêm ở lại nơi có phụ nữ, trong ông lại có một chút thấp thoáng gì đó của tình yêu. Ông bảo, nhớ nhất là hình ảnh cô bác sĩ cùng hành quân những ngày đầu tiên. Hồi ấy, sau 30 ngày hành quân, ông đã bị một trận sốt rét khủng khiếp. Nếu không có hình ảnh bắp chân cô gái quân y đi theo đoàn cứ xanh dần theo màu lá rừng vì thiếu chất, lấm tấm những giọt mồ hôi, thì có lẽ ông đã quay trở lại hậu phương. Nhưng ông vẫn quyết đi tiếp, chỉ mong để đuổi kịp được đơn vị mình, để được hành quân cùng người con gái đó. Nhưng đến khi đuổi kịp thì cô gái quân y nọ đã rẽ về miền Trung, không còn cùng hành quân nữa. Cái cảm giác tan nát trong lòng, khi biết tin ấy, đến tận bây giờ vẫn khiến ông khắc khoải khôn nguôi.

Nhà văn cho rằng, chỉ có tình yêu mới làm nên sự lãng mạn của cuộc chiến, chứ không thể là trong cái tâm trạng len lỏi trong rừng rậm bị muỗi đốt đến sốt rét ác tính, nhìn thấy lá vàng rơi… mà lãng mạn được. Nhưng chỉ là tình yêu thôi, chứ không phải tình dục, vì nói như vậy sẽ làm tổn thương những người phụ nữ đã hết mình cho cuộc chiến.

Thực lòng Chu Lai rất ngưỡng mộ những cô gái quân y, giao liên ông từng gặp ở mỗi cuộc hành quân. Không phải họ có chút gì để lòng với chàng trai Hà thành, mà vì ông nhận ra tính nhân văn cao cả ở trong tình cảm tưởng như rất đời thường đó. Đó là sự dâng hiến cho người lính ra chiến trận có thể không bao giờ còn quay trở về. Tình cảm đó là chỗ dựa, là điểm tựa tinh thần cho ông làm người lính cầm súng suốt mười năm. Và ông cũng vỡ ra một mảng văn chương từ những người phụ nữ, từ những mối tình rất đỗi nhân văn từ cuộc chiến tranh khốc liệt ấy. Nên trong tác phẩm nào của Chu Lai sau chiến tranh, hình ảnh phụ nữ đều trở thành nhân vật chính. Họ rất đáng được ngợi ca và tôn vinh.

Chu Lai là thế, lúc nào cũng nồng nàn ngay cả khi cô đơn, lúc nào cũng lạc quan ngay cả khi đang chán ghét mọi thứ. Như ông thường nói, trái tim vẫn đập những nhịp đập khao khát yêu thương, nhưng hình hài bây giờ thì “ọp ẹp” mất rồi. Nhưng khi nó “ọp ẹp” thì chính là lúc nó đang chuẩn bị đập những nhịp đập tráng kiện nhất.

Có lẽ, những cảm xúc bước ra từ chiến tranh đã làm điểm tựa cho ông trong những nhọc nhằn lo toan của cơm, áo, gạo tiền thời mở cửa. Giờ đây, nhà văn Chu Lai vẫn làm việc, vẫn viết, vẫn yêu… cả khi “hình hài ọp ẹp”. Đó là tư chất của người lính mà thế hệ chúng tôi, những người sinh ra sau chiến tranh, luôn thầm cảm phục và biết ơn./.


Thương Huế (Báo TNVN)