Cập nhật lúc : 5:38 PM, 10/11/2009

Nỗi lo tăng trưởng tín dụng nóng

Nhu cầu vốn của doanh nghiệp những tháng cuối năm sẽ tăng cao.

(VOV) - Theo các chuyên gia kinh tế, điều đáng lo ngại là do không kiểm soát được nên tăng trưởng tín dụng trở thành một căn bệnh mà năm nào cũng phải tìm thuốc chữa.

Nền kinh tế nước ta đã vượt qua giai đoạn khó khăn, chặn được đà suy giảm và phát triển theo hướng tốt hơn. Kết quả các chỉ tiêu chủ yếu tháng sau tăng hơn tháng trước duy trì ở mức tăng trưởng hợp lý, làm cơ sở cho việc thực hiện các mục tiêu chống suy giảm và các chỉ tiêu đặt ra cho năm 2009.

Điều quan trọng hiện nay là phải tìm được các giải pháp tài chính-tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ suy giảm, giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Đây cũng là nội dung chính của hội thảo diễn ra sáng nay (11/10) tại Hà Nội.

Tăng trưởng tín dụng có thể lên tới 40%

Đến tháng 9, tổng tín dụng đã tăng ở mức 29%, hết tháng 10 là 33%. Từ nay đến cuối năm, nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp còn nhiều hơn nữa vì thế cả năm tăng trưởng tín dụng sẽ phải ở mức trên dưới 40%. “Thế nhưng điều lo ngại ở đây không phải là bao nhiêu phần trăm mà dường như chúng ta không kiểm soát được tăng trưởng tín dụng. Trường hợp này rất giống cuối năm 2007 khi tín dụng bùng nổ tới mức ngỡ ngàng, mục tiêu là 25% thì con số này tăng tới 53%” - TS Vũ Đình Ánh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính) bày tỏ.

Tuy nhiên, về vấn đề tăng trưởng tín dụng, TS Nguyễn Thị Mùi - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, lại tỏ ra không mấy lo ngại. Bởi theo TS Mùi, hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay không phải chỉ là tín dụng. Nhiều ngân hàng coi tín dụng chỉ là một dịch vụ bán kèm. Thực tế, lãi suất huy động vốn đã xấp xỉ 10% và cho vay được giới hạn ở mức 10,5%. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp, vì thế trong bối cảnh hiện nay họ cũng phải tìm cách để tồn tại, phát triển. “Điều quan trọng là trong tình hình khó khăn cần quan tâm đến sự ổn định về thanh khoản của ngân hàng” – TS Nguyễn Thị Mùi nói.

Tỷ giá hối đoái vẫn “căng”

Đối với tỷ giá hối đoái, theo TS Vũ Đình Ánh, chúng ta khó áp dụng các biện pháp về tiền tệ để đối phó với biến động tỷ giá mà phải điều chỉnh tỷ giá thông qua việc quản lý thương mại và cán cân thanh toán của Việt Nam chứ không phải bản thân vấn đề điều hành, chế độ quản lý tỷ giá hối đoái.

Thời kỳ căng nhất của tỷ giá năm 2007-2008 chúng ta đã có những giải pháp rất tích cực để giải toả vấn đề. “Nhưng không phải lúc nào cũng giống nhau. Lúc này cần phải tính đến tỷ giá trong một bối cảnh rộng hơn, đặt trong một khung chiến lược dài hạn hơn cả là quá trình hậu khủng hoảng. Chúng ta đang khôi phục kinh tế Việt Nam trong bối cảnh tương quan giá trị các đồng tiền thay đổi rất nhiều mức độ và khó đoán định” – TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nói.

Theo các chuyên gia kinh tế, để đối phó áp lực tỷ giá, một mình Ngân hàng Nhà nước không thể gánh vác mà cần có sự chủ động của nhiều Bộ, ngành. Bởi thực tế, tỷ giá liên quan đến cội nguồn là thâm hụt cán cân thương mại quá lớn trong cuối năm và có thể kéo dài sang đầu năm sau. Nếu không có biện pháp cần thiết kiểm soát, hạn chế nhập khẩu để giảm chi tiêu trong bối cảnh khó chủ động tăng xuất khẩu thì cần có sự phối hợp của Bộ Tài chính trong điều phối hoạt động nhập khẩu từ nguồn ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, Bộ Công thương cần chủ động hơn trong việc điều tiết sản xuất nội địa và nhập khẩu.

Lạm phát có dừng ở mức 7%?

Ngay tại thời điểm hiện nay, tuy lạm phát được duy trì ở mức thấp song vẫn đang gây áp lực mạnh lên lãi suất và tỷ giá hối đoái. Cộng thêm vào đó mức thâm hụt thương mại vẫn cao trong điều kiện xuất khẩu giảm mạnh… là những yếu tố tiềm tàng gây bất ổn.

Kinh tế năm 2009 tạo 2 áp lực lớn cho nền kinh tế trong năm 2010 là chỉ số giá và tỷ giá hối đoái. “Rất khó giữ được chỉ số giá ở mức như Quốc hội vừa đặt ra” – TS Vũ Đình Ánh lo ngại.

Theo nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, vì thế khi kinh tế thế giới phục hồi sẽ kéo theo giá nhập khẩu các mặt hàng tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát. Bên cạnh đó, ông Vũ Khoan cũng phân tích: “Bản thân một số quyết định nội tại cũng ảnh hưởng đến việc tăng chỉ số giá. Ví dụ như quyết định tăng lương, tăng giá bán than, điện, nước…”.

Còn theo TS Trần Đình Thiên, lạm phát được coi là giảm so với chính nước ta nhưng so sánh với thế giới thì mức này vẫn là cao. Một mức lạm phát cao chứng tỏ nền kinh tế bất thường so với thế giới, là bất ổn trong điều kiện chúng ta từng trải qua cơn lạm phát của 2 năm 2007-2008.

Bình luận về mức lạm phát năm nay là 7% theo mức Quốc hội cho phép, TS Trần Đình Thiên cho rằng, đây được coi là mức tích cực nhưng vẫn cao so với thế giới trong điều kiện khủng hoảng. Đến bây giờ những yếu tố tăng lạm phát bắt đầu xuất hiện, độ trễ của dòng tiền bơm ra ngoài bắt đầu ảnh hưởng. Năm nay, ngoài lượng tiền kích cầu trực tiếp thì dư nợ tín dụng đã hơn 33% (chỉ tiêu là 25-30%) mà giờ vẫn còn 2 tháng, trong khi áp lực vay vốn tăng rất cao. Ngoài ra, kinh tế thế giới hiện đang khôi phục, mặt bằng giá cả tăng lên (Việt Nam nhập khẩu tương đương 95% GDP). Khôi phục kinh tế của nước ngoài cũng có nghĩa các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam cũng tăng giá, tăng lạm phát.

“Phải cẩn thận vì sức căng của lạm phát quá lớn và những giải pháp không tương thích sẽ gây ra bất ổn” – TS Trần Đình Thiên cảnh báo.

Thâm hụt ngân sách Nhà nước năm 2009 dự tính lên tới 6,9%. “Tiềm lực tài chính của Việt Nam không cao, do đó trong thời gian tới đây chúng ta không thể duy trì thâm hụt ngân sách ở mức cao như vậy. Chúng ta không có nguồn lực để có thể tài trợ, đảm bảo ổn định, an ninh cho tài khoá. Vấn đề ở đây là để giảm thâm hụt ngân sách không phải là tăng thu ngân sách nhưng chúng ta phải giảm tỷ lệ chi ngân sách. Điều này liên quan đến vấn đề đầu tư hiện nay. Trong khi FDI sụt giảm thì đầu tư nhà nước tăng mạnh làm cho hiệu quả vốn đầu tư (ICOR) của nền kinh tế trong năm nay lên tới trên 8%.

Tăng trưởng hay ổn định?

Vậy với hàng loạt khó khăn, vướng mắc đặt ra cho nền kinh tế thì vấn đề hiện nay là chúng ta nên hướng tới mục tiêu tăng trưởng hay giữ ổn định nền kinh tế? TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam cho rằng, trong điều kiện kinh tế hiện nay, đặc biệt là trong năm 2010, chúng ta nên tập trung cho mục tiêu ổn định chứ không phải đua tăng trưởng.

Tuy nhiên, TS Vũ Đình Ánh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả (Bộ Tài chính) thì chúng ta không nên đánh đổi giữa tăng trưởng và ổn định hay hy sinh tăng trưởng để giữ ổn định. Bởi hai trạng thái này của nền kinh tế có sự bổ trợ cho nhau. Nếu ổn định mà không có tăng trưởng và ngược lại thì không có ý nghĩa ý gì.

Cùng quan điểm này, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng, không thể rũ bỏ yêu cầu về tốc độ tăng trưởng, vì ai cũng biết chúng ta đã quá chậm và lạc hậu, nếu không phát triển thì sẽ ngày càng tụt xa. Điều quan trọng là phải chú ý đến chất lượng tăng trưởng. Cái khó là chọn tương quan giữa tăng trưởng và ổn định (bao nhiêu phần trăm cho tăng trưởng và bao nhiêu phần trăm cho ổn định)./.

Vũ Hạnh

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng