Cập nhật lúc : 8:54 AM, 22/08/2009

Quản lý giáo dục liên kết

(VOV) - Lợi ích liên kết đào tạo rất rõ ràng, song cũng có nhiều ý kiến cho rằng, đã đến lúc cần xem xét lại chất lượng loại hình giáo dục này.

Phóng viên TNVN đã có buổi trao đổi với Giáo sư Phạm Phụ xung quanh vấn đề này.

Giáo dục Việt Nam chưa có sự chuẩn bị tốt

PV: Giáo sư có nhận xét gì về tình trạng bùng nổ liên kết giáo dục trong và ngoài nước hiện nay?
GS Phạm Phụ: Giáo dục ở nước ngoài, kể cả ở những nước có nền giáo dục tốt như Mỹ vẫn có chuyện thượng vàng hạ cám lẫn lộn, thậm chí có những cơ sở như cái “mỏ cấp bằng”.

Giáo sư Phạm Phụ
Do vậy, không phải cơ sở giáo dục nước ngoài nào đến liên kết với ta đều tốt. Cần phải xác định rõ, hầu hết những cơ sở nước ngoài đến liên kết với các trường ở Việt Nam đều vì lợi nhuận. Do đó, chúng ta phải có sự lựa chọn kỹ càng để đảm bảo được chất lượng và quyền lợi cho người học. Có nghĩa là đừng để các cơ sở nước ngoài kiếm được siêu lợi nhuận. Nhiều trường trong nước liên kết với cơ sở đào tạo ở nước ngoài để lấy tên quốc tế rồi bắt học sinh đóng tiền học phí cao, trong khi chất lượng không tương xứng. Dân ta thì nhiều người sính ngoại, cứ thấy tên trường nước ngoài là nghĩ chất lượng tốt, sẵn sàng bỏ tiền theo học.

Liên kết giáo dục ở ta hiện đang tồn tại hai vấn đề lớn là chất lượng giáo dục chưa tương xứng với chi phí mà người học phải trả, và khi có sự cố thì người học không được bảo vệ. Trong khi các trường đại học, cao đẳng công lập, Nhà nước đưa ra giới hạn về mức nộp học phí và kiểm soát về mặt chất lượng nhưng cứ học theo chương trình liên kết thì chất lượng và học phí lại thả nổi. ở Trung Quốc, những cơ sở giáo dục liên kết được Nhà nước quản lý chặt chẽ về số lượng sinh viên, mức học phí, quy chế liên doanh, chất lượng đào tạo.

Lớp học đào tạo thạc sĩ được quảng cáo liên kết với trường đào tạo kinh doanh quốc tế Scanthnavie (IBSS) Đan Mạch

PV

: Thưa ông, những cơ sở giáo dục nước ngoài được Bộ GD - ĐT cấp phép là những cơ sở đảm bảo chất lượng?
GS Phạm Phụ: Việc cấp giấy phép cho các cơ sở giáo dục nước ngoài đến liên kết với Việt Nam còn nhiều tồn tại. Đó là việc xem xét trách nhiệm cấp giấy phép giữa Bộ KH - ĐT và Bộ GD - ĐT hiện nay chưa rõ ràng, nên khi có chuyện xảy ra, ngành giáo dục và bên đầu tư đổ lỗi cho nhau, không ai đứng ra bảo vệ người học. Giấy kiểm định chất lượng của các cơ sở giáo dục nước ngoài cũng cần phải xem xét kỹ càng. ở nhiều nước, có khi tổ chức kiểm định chất lượng là của chính họ, do đó, vấn đề kiểm định chất lượng cứ gọi là mê hồn trận, vì vậy, không phải có giấy kiểm định chất lượng là chúng ta yên tâm. Cần phải xem xét kỹ tổ chức đứng ra kiểm định chất lượng có uy tín hay không?

Ngoài một điểm chung là đầu vào “mở”, các chương trình liên kết đào tạo (CTLKĐT) hiện nay lại rất khác nhau về phương thức đào tạo, chương trình học... Về thời gian đào tạo, thời gian đầu chương trình “đôi” có học trình 4 - 5 năm, bao gồm một năm dự bị học ngoại ngữ cho những người chưa đủ trình độ, hai năm học ở Việt Nam, hai năm học ở nước ngoài (2+2). Tuy nhiên gần đây đã có nhiều “biến tấu” như 3 + 1, 4 + 0 hay 2 + 1, 1 + 2, 3 + 0 (chương trình đào tạo ĐH chỉ có ba năm), tức là có những CTLKĐT giảng dạy hoàn toàn ở Việt Nam.

Phương thức giảng dạy cũng mỗi nơi một kiểu: nơi có 100% giảng viên do trường đối tác giảng dạy, nơi chỉ có 50% hoặc ít hơn, không ít chương trình hoàn toàn do giảng viên của trường phía Việt Nam đảm nhận. Từ số tín chỉ khác nhau dẫn đến mức học phí cũng rất khác nhau, từ trên 1.000USD đến 6.000 - 7.000 USD/năm học, tùy từng đối tác. (Theo Tuoitre online)

Khi một cơ sở giáo dục nước ngoài đến liên kết với các cơ sở giáo dục của Việt Nam, chúng ta phải xem xét hàng loạt vấn đề như: trường đại học nào là trường cấp bằng cuối cùng, bởi đã có tình trạng trường đại học nước ngoài liên doanh với một công ty và công ty đó đến Việt Nam mở cơ sở đào tạo, hay liên kết với cơ sở đào tạo ở Việt Nam nhưng bằng cấp là do công ty cấp chứ không phải do trường đại học cấp. Chúng ta cần tìm hiểu thông tin về số lượng và bằng cấp thầy, cô giáo của các cơ sở đến liên kết? Chương trình học đảm bảo phải đạt đến một mức chất lượng như thế nào? Điều kiện nhập học, điều kiện học tập như thế nào? Đề cương chi tiết quá trình học ra sao?...

PV: Theo ông, các trường đại học danh tiếng trên thế giới không "để mắt" đến Việt Nam có phải là vấn đề học phí hay không? Bởi khi liên kết với các trường đại học có tên tuổi thì học phí sẽ rất cao, người Việt Nam khó kham nổi?
GS Phạm Phụ: Những trường đại học danh tiếng không xuất dịch vụ qua Việt Nam mà chỉ là các trường lớp trung và lớp dưới. Chúng ta phải xác định rõ người ta đến liên kết với ta là vì lợi nhuận.

Chiến lược liên kết của Singapore là kéo cho được 10 trường vào loại hàng đầu trên thế giới đến liên kết và Nhà nước có rất nhiều ưu đãi cho họ với mục đích để các trường này cùng với nước họ giải quyết vấn đề giáo dục chiến lược. Trước mắt, tôi chẳng hy vọng những trường danh tiếng đến Việt Nam trước hết vì vấn đề tài chính. Trường đại học cỡ trung bình của Mỹ chi phí cho 1 sinh viên hết 20.000USD/năm, nếu liên kết với các cơ sở giáo dục ở Việt Nam cùng lắm chỉ thu được 10.000USD/năm, bởi thế họ sẽ không đến đây. Từ đó để thấy rằng, nhiều trường Việt Nam đang liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài thu mỗi học sinh 6.000USD/năm, thì cũng khó đòi hỏi chất lượng cao được.

PV: Giáo sư có đồng ý với ý kiến, giáo dục Việt Nam chưa có sự chuẩn bị tốt khi hội nhập với thế giới. Chúng ta lúng túng, vội vã nhưng đáng ngại hơn cả là lợi ích người học bị xem thường. Người học đang phải trả giá đắt hơn, thậm chí quá đắt, họ bị lừa so với những gì họ thu lượm được?
GS Phạm Phụ: Việt Nam vào WTO gần 3 năm rồi nhưng ngành giáo dục vẫn chưa có sự chuẩn bị thích đáng, chưa có chiến lược bài bản. Hiện, Việt Nam có khoảng 50.000 sinh viên, học sinh đi du học, ước tính sơ bộ chi phí xã hội mỗi năm tiêu tốn khoảng 500 triệu USD, số tiền này có thể đào tạo được 1,6 triệu sinh viên trong nước. Vậy, chuyện du học tốt ở chỗ nào? Chưa tốt ở chỗ nào? Chúng ta chưa có sự phân tích đầy đủ.

Hiện chúng ta có hàng trăm cơ sở đào tạo nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam. Nhưng trong cam kết WTO, Việt Nam chỉ có cam kết ở bậc lớn như cao đẳng, đại học, chưa có cam kết ở bậc mẫu giáo, tiểu học. Những trường mẫu giáo, tiểu học mà liên kết thì chúng ta xử lý sao đây? Rồi chuyện chúng ta có kế hoạch bảo vệ thị trường giáo dục nội địa hay chưa? Chúng ta có quy định bảo vệ khách hàng, người tiêu thụ dịch vụ giáo dục như thế nào? Rõ ràng còn rất nhiều vấn đề chúng ta đang bỏ trống.

PV: Xin cảm ơn giáo sư!./.

Ông Nguyễn Huy Vị, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Yên: Nhà nước cần quản lý chặt để người học khỏi bị lừa

Trong thời đại hội nhập, việc liên kết đào tạo với các trường đại học nước ngoài là xu thế tất yếu. Gần đây có một số trường đại học, cao đẳng không danh tiếng trong nước cũng tiến hành liên kết với các cơ sở giáo dục nước ngoài dưới nhiều hình thức: toàn phần, bán phần, cử sinh viên đi học. Nghe học sinh ở những trường này phản ánh thì việc tổ chức học tập của trường nhiều khi không đúng như cam kết ban đầu, kiểu “treo đầu dê bán thịt chó”.

Cứ sau mỗi mùa tuyển sinh, tôi thấy nhiều trường đại học, cao đẳng rầm rộ quảng cáo tuyển sinh theo chương trình đào tạo liên kết, thí sinh thi trượt đại học cũng có thể theo học, và sau khi học 4 - 5 năm thì được cấp bằng và bằng này được Nhà nước Việt Nam công nhận. Các trường đại học ở Việt Nam thì phải thi đỗ mới được học và học xong mới được cấp bằng.

Tôi thấy dường như ở đây có con đường vòng rất ngắn làm cho ai quan tâm đến giáo dục cũng phải nghi ngờ. Trên thế giới, việc mở trường đại học rất đơn giản, chỉ cần có tiền là có thể mở được trường và họ mời giáo sư đến dạy hợp đồng, những trường như vậy chất lượng chưa được kiểm định, nếu họ tiến hành liên kết với ta thì bằng cấp do họ cấp khó đảm bảo chất lượng. Vì vậy, Nhà nước cần quản lý chặt việc liên kết để người học khỏi bị lừa./.

Thiệu Phong (báo TNVN)

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu