LTS: Hội nghị Trung ương lần thứ ba, khóa XI và Quốc hội khóa XIII đã nhất trí cần tập trung cơ cấu lại nền kinh tế trên ba lĩnh vực quan trọng nhất, đó là: Tái cấu trúc đầu tư, trong đó trọng tâm là đầu tư công, cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, tái cấu trúc DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.
VOVonline giới thiệu loạt bài "Cơ cấu lại nền kinh tế với ba mũi nhọn"
Tái cấu trúc ngân hàng: Ném chuột không để vỡ bình!
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho rằng vấn đề tái cấu trúc là quá trình hoàn thiện và diễn ra thường xuyên, theo logic đến lúc lượng đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Sau 25 năm đổi mới nền kinh tế đã qua giai đoạn phát triển theo chiều rộng và đạt được những kết quả quan trọng đặt nền móng để phát triển về chất và trở thành nước thu nhập trung bình. Tuy nhiên để không bị rơi vào cái bẫy của nước thu nhập trung bình, trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, đòi hỏi chúng ta phải thay đổi về chất, chuyển sang phát triển theo chiều sâu. Hệ thống ngân hàng là một trong 3 khâu đột phá của quá trình tái cấu trúc.
Nhìn lại, hệ thống ngân hàng đã là huyết mạch, trở thành bà đỡ cho nền kinh tế, dư nợ tín dụng bằng 116% GDP, tổng tài sản bằng 244% GDP. Tuy nhiên, nếu ngân hàng vẫn hoạt động như hiện nay thì sẽ không có thị trường vốn phát triển vì ngân hàng làm hết vai trò của thị trường vốn. Ông Nguyễn Văn Bình cho biết, các ngân hàng thương mại hiện chủ yếu dựa vào hoạt động tín dụng chiếm tới 80%, trong khi thiếu rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, 52% thị phần lĩnh vực ngân hàng lại không thuộc Nhà nước nên việc tái cấu trúc lĩnh vực ngân hàng là rất khó, các nhóm lợi ích sẽ nổi lên cản trở.
Ông Bình nói thêm, tái cấu trúc làm sao “ném chuột không được để vỡ bình”, không được để vỡ hệ thống vì sẽ kéo theo nhiều hệ lụy. Ông Bình cho biết: “Chính phủ nước ngoài tài trợ hàng trăm, hàng nghìn tỷ USD để cứu ngân hàng mà chưa cứu được gì, trong khi Việt Nam ta không có tiền, không có các quỹ lớn để đáp ứng chi phí cho quá trình này”. Vì vậy, làm phải có lộ trình và bước đi phù hợp. Ông Bình nói: “Có những việc phải làm ngay trong năm nay. Nhiều tổ chức tín dụng yếu kém, không sống được, phải xử lý ngay nếu để lâu càng thêm thối rữa ô nhiễm môi trường, có những ngân hàng có thể cứu được thì cứu”.
Thống đốc Nguyễn Văn Bình cũng công bố một lộ trình trong năm năm tới. Theo đó, năm 2012 sẽ dứt điểm xử lý các ngân hàng yếu kém nhưng không để đổ vỡ ảnh hưởng đến người dân. Năm 2013 tiếp tục tái cơ cấu nhưng để các ngân hàng tự nguyện sáp nhập để tăng quy mô, tăng khả năng tồn tại và cạnh tranh. Năm 2014 -2015 Việt Nam sẽ có từ một đến hai ngân hàng tầm cỡ khu vực với trị giá khoảng 50 tỷ USD (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là ngân hàng quy mô lớn nhất hiện mới có giá trị khoảng 25 tỷ USD). Ngành ngân hàng sẽ có khoảng từ 12 đến 15 ngân hàng tốp đầu chiếm 80% thị phần, còn lại là các ngân hàng nhỏ hoạt động trong môi trường, cơ chế riêng, cùng với quỹ tín dụng nhân dân tạo thành mạng lưới rộng khắp, giúp tăng tiếp cận của người dân với các dịch vụ ngân hàng, ông Bình cho biết. Cuối cùng, vị thủ lĩnh ngành ngân hàng khẳng định: “chương trình tái cơ cấu của chúng tôi sẽ có kết quả ngay trong năm 2012 để định hướng cho tái cơ cấu nền kinh tế”.
Tiến sĩ Võ Trí Thành tin tưởng lần cải cách này có tính quyết liệt và đột phá hơn. Ông Thành nói: “Chưa bao giờ trong hàng ngũ từ lãnh đạo đến nghiên cứu có sự đồng thuận tương đối cao. Chúng ta biết là khó, nhưng chúng ta đã có sự thay đổi căn bản, cả tư duy và cách thức điều hành nền kinh tế”.
Tuy nhiên, vị chuyên gia này cũng chỉ những khó khăn mà quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước nói chung và ngành ngân hàng nói riêng sẽ phải đối diện. Đó là các lĩnh vực chọn tái cấu trúc đều nhạy cảm về chính trị, xã hội, liên quan đến tư duy và ý thức hệ, không phải dễ vượt qua. Ví dụ, tư duy định hướng DNNN còn đầy tranh cãi. Hai là việc xử lý lợi ích của quá trình cải cách sẽ có người được và mất. Người mất có hai nhóm là nhóm cần hỗ trợ nguồn lực vì không còn đủ sức sau cải cách. Nhóm 2 là nhóm lợi ích thì xử lý rất khó, cần phải có ý chí chính trị và sự đồng thuận.
Riêng đối với ngân hàng, ông Thành cho rằng, lần cải cách này ngành cần cái nhìn rộng hơn, trong đó coi trọng yếu tố quản trị rủi ro hệ thống. Vì ngân hàng còn liên quan đến các khoản nợ, trong khi loại hình tập đoàn tài chính đa năng bắt đầu nhen nhóm ở Việt Nam ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Vì vậy, ông Thành kiến nghị đến 2015 phải gắn với giám sát với quản trị ngân hàng./.