Cập nhật lúc : 7:30 AM, 14/02/2010

Thi tứ đồng bằng

(VOV) - Miền Tây bao la những dáng sông như những cánh tay ôm đất đai, vườn tược. Vùng đất này là vùng đất mở, vùng đất cưu mang, “trọng nghĩa khinh tài vi nhân bất phú”…

Ông bạn nhà văn tóc lưa thưa bốn mùa đi vắng, am hiểu vùng châu thổ, quê xứ Quảng nhưng từ lâu đã là người đồng bằng, ăn hạt gạo đồng bằng. Một kho kiến thức về xứ sở rộng lớn này chứa trên căn gác nhỏ mà tài sản đáng giá là tủ sách, chiếc piano và những đàn sến, đàn cò… Vị nhà văn này có những câu thơ thấm thía về hạt gạo: “Thức ăn là thần/ Thức ăn là đời sống/ Chúng ta là thức ăn/ Tôi thấy một người Nhật đọc ba lần trước bữa ăn/ Để dạy các con kính yêu hạt gạo/ Người Trung Hoa xưa, gạo thức ăn là Đạo/ Và thờ cây lúa thiêng liêng/ Vua Hùng Vương thứ 6 nước mình đâu phải ngẫu nhiên/ Chọn Lang Liêu với bánh dày bánh chưng kế vị…”(*)

Tôi mở những trang sách đồng bằng lắng nghe câu chuyện về văn minh những dòng sông lớn có dáng hình hạt gạo. Hai vựa lúa phì nhiêu gắn với sông Hồng đỏ phù sa và Cửu Long chín nhánh. Tôi lại lật giở cuốn sổ lấm bùn ghi lịch trình hạt gạo thành hình của một hộ nông dân vùng châu thổ, thấy chi chít những con số: từ giá thuê đất, công cày, tiền phân bón, tiền thuốc cho đến công gặt, kéo, phơi, rải phân, xạ thuốc, bơm nước… Hạt gạo có trong phép tính chi li của một nhà nông, và cả trong bài toán vĩ mô quốc gia đại sự. Năm rồi, nhiều lúc, người nông dân ngậm ngùi nhìn lúa gạo chất đống ẩm mốc vì không bán được; khi thì giá lúa tăng cao vẫn khó tiêu thụ; rồi có thời điểm, giá lúa xuống, bà con xót ruột rao bán giá rẻ mà cũng không xong.

Thế nhưng, một quốc gia giàu nội lực ắt không chịu lùi bước. Tin vui từ những cánh đồng liên tiếp ùa vào những bản báo cáo, ùa vào cuộc sống của hàng triệu gia đình nông dân một nắng hai sương làm ra hạt gạo. Thu nhập của người trồng lúa ngày càng được nâng lên nhờ các chính sách hỗ trợ giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm… Một số lượng lớn gạo tiếp tục lên đường xuất ngoại, và vẫn ở lại với người dân trong thế an ninh lương thực. Bát cơm ngày hôm nay có bao mùa đã đi qua, những cay đắng, ngọt bùi, mồ hôi, nước mắt.

Cuối năm, một Festival Lúa Gạo lần đầu tiên được tổ chức để tôn vinh nền văn minh lúa nước và người trồng lúa đất Việt. Niềm vui tiếp tục nhân lên khi chúng ta đã biết chiến thắng thiên tai, dịch bệnh, tình trạng “được mùa mất giá”; trên đồng ruộng đã ít dần những hạt giống kém chất lượng, nhường chỗ cho những giống lúa cao sản ngắn ngày, vừa thơm ngon vừa kháng được sâu rầy, năng suất cao “dẻo cơm thơm hạt”, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu ra những thị trường khó tính. Khoa học kỹ thuật viết tiếp những kỳ tích xa xưa. Công cuộc mở đất chinh phục thiên nhiên, khai phá Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên… bồi lắng những kinh nghiệm quý báu khi tận dụng phù sa, chống mặn, ngọt hóa cánh đồng… Hạt gạo không chỉ là vật chất. 6 triệu tấn gạo xuất khẩu năm qua chính là đức tin từ bao đời.

                                ***

Dịp cuối năm vượt sông sang bên kia khu Phù Sa để gần hơn cây cầu Cần Thơ dáng trĩu giống một người gánh gạo. Ở vùng Châu Phú, Tân Châu (tỉnh An Giang) - nơi con sông Mekong đổ hai nhánh vào đất Việt, thấy khá nhiều chiếc cầu đơn sơ có dây văng hẳn hoi như bản vẽ ban đầu của những cây cầu hiện đại. Người đồng bằng yêu hạt lúa, phù sa, con xuồng và cây cầu…, gánh biết bao vui buồn, mùa lúa, những đám cưới thôn quê và những người con gái gạt nước mắt giã từ mảnh vườn để đi thật xa… Ông bạn nhà văn sau lễ khánh thành cầu Mỹ Thuận nhìn thấy cái dáng cầu khỉ trong chiếc cầu hiện đại bắc điệu đà như một cung đàn qua sông Tiền nối Vĩnh Long - Tiền Giang. Bài “Chiếc cầu khỉ năm 2000” thốt lên những ý thơ về công cuộc mở đất, chinh phục nội lực và khát vọng yên bình: “Hai nhánh nước cánh tay trời vạm vỡ/ Ru chàng trai làng Gióng dựng miền Nam/ Không đuổi giặc với thanh gươm mà mở đất với cây đàn…”(*)

Dân Việt mình giỏi chế ngự và chinh phục thiên nhiên và cũng biết sáng tạo những giá trị cho văn hóa. Người miền Tây nghiên cứu trồng dưa hấu vuông; sáng tạo hệ thống đường rày kéo xuồng qua đập ngăn mặn; tự thiết kế những cây cầu nông thôn… Chả thế mà ngoài phong trào hiến đất làm trường, làm đường giao thông, ở miền Tây, phong trào ủng hộ dựng cầu là nét son trong đời sống cộng đồng. Mỗi cây cầu đều kể một câu chuyện về tình làng nghĩa xóm, về niềm vui của người già và nụ cười lũ trẻ qua sông đi học. Chợt nhớ tới những dòng kênh huyết mạch đồng bằng… Tồn tại đã hơn 100 năm, kênh Xà No miền Hậu Giang - “Con đường lúa gạo” dài 34 cây số, nối rạch Cần Thơ, một nhánh của sông Hậu đến sông Cái Tư, một nhánh của sông Cái Lớn (thuộc thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang), khẳng định tư duy thông thương kinh tế của cha ông. Đây còn là công trình thủy lợi phục vụ cho sản xuất lúa chất lượng cao, cây ăn trái, hoa màu và nuôi thủy sản.

Có mối liên hệ máu thịt giữa hạt gạo, phù sa và những dòng sông, những con kênh. Một mạch nguồn không ngừng chảy trong vùng đất, trong ý thức hệ và tính cách những chủ nhân vựa lúa, vựa trái cây lớn nhất nước. Trong nhiều trang sách, vẫn còn nguyên những cảm xúc ngạc nhiên về vùng đất có hệ thống thủy lộ vào hàng bậc nhất thế giới này. Mọi nền văn minh đều bước đi từ những dòng sông. Miền Tây bao la những dáng sông như những cánh tay ôm đất đai vườn tược. Vùng đất này là vùng đất mở, vùng đất cưu mang, “Trọng nghĩa khinh tài vi nhân bất phú/ Đất phù sa nuôi tâm tính phù sa/ Rượu uống chung ly bốn biển chung nhà…”*. Ở miền Tây tụ hội cư dân muôn quê, góp thơm hạt gạo Bắc bộ, cánh trà Thái đặc sản, chiếc bánh cốm Hà Thành xếp cạnh dĩa cốm dẹp của người Khmer…

Đất nước mình xuôi ngược. Miền Trung như nhịp cầu dài nối hai đầu Nam - Bắc. Ba miền nhớ thương nhau qua chiếc cầu năm tháng. Trong những đêm ba mươi của cái thời đất nước còn nghèo lắm, nơi miền Bắc giá lạnh, bên bếp củi, nồi bánh chưng gom góp vốn liếng cả một năm làm ăn vất vả, ánh mắt mẹ cha ngời lên niềm mong thấm vài giọt nước mắt. Một thế hệ lớn lên từ góc bếp lầm bụi, bồ hóng và tháng năm gian khó. Hướng sông Hồng mờ xa, những đứa trẻ chờ trông bóng cha chở gạo nếp qua cầu Long Biên trong cơn gió cuối mùa đông. Đó là những hạt gạo nếp làm nên chiếc bánh chưng tiên tổ. Chợt thấy gần gũi và đồng cảm câu thơ giàu hình ảnh Nam bộ: “Con nước lớn cha chống xuồng/ Con nước ròng mẹ nhóm bếp cà rang đợi gió…”*

Bánh chưng - bánh dày - bánh tét… gói trọn đời sống tâm linh của cả một dân tộc. Qua từng chặng thăng trầm, trên những cánh đồng, hạt giống vẫn đang tiếp tục nảy mầm. Đó là những thi tứ mãi luôn ấm lửa trong bản trường ca đất nước./.

(*)Trích thơ

nhà văn Lê Đình Bích.

Trần Nhật Minh

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu