Cập nhật lúc : 6:35 AM, 10/10/2010

Thơ thẩn đường Hà Nội

Phố Khâm Thiên (ảnh minh họa trong bài: Hà Thành)

(VOV) - Ôi những tên đường, những tên phố, mỗi cái tên là một trang quốc sử, một cái tên lưu giữ bao chiến công, những cái tên khắc sâu vào lòng mỗi người Việt, cho dù người đó đã hay chưa một lần đặt bước chân lên.

Ít lâu sau ngày Sài Gòn giải phóng, một chị bạn người gốc Hà Nội mừng rỡ đến báo cho tôi hay:

- Người ta đã cho tháo gỡ dây kẽm gai, thông con đường Huyền Trân Công chúa. Tôi vừa đến đấy. Còn nhiều rác rưởi lắm song xe cộ đã lại qua. Con đường ấy hẹp và ngắn mà có hai hàng cây đẹp lắm, anh à. Tôi đếm được mấy chục cây sao.

Đường Huyền Trân công chúa sát phía sau vườn dinh Độc Lập, cạnh công viên Tao Đàn. Một con đường ngắn, có phải nổi tiếng nhờ hai hàng cây sao? Để bảo vệ dinh, nhà cầm quyền đô thành thời trước đã cho rào lại. Bộ đội ta vừa giải phóng nó.

Chị là người Hà Nội, vì hoàn cảnh năm 1955 theo gia đình chồng xuống Hải Phòng đáp tàu vào Nam. Đứa con trai chị sinh trong này đã bỏ mình nơi trận mạc. Họ hàng nhà chồng di tản gần hết, riêng chị lánh mặt ở lại thành phố cùng đứa con gái. Chị nhớ Hà Nội đau đáu mà đường sá chưa thông cho nên chưa có dịp ra. Một lần, chị cắc cớ hỏi tôi:

- Anh có biết con đường cây nào đẹp nhất Hà Nội?

Hơi phân vân, tôi trả lời:

- Nhiều chứ, chị.

Tôi chưa kịp nói rõ hơn, chị đã tự đáp:

- Đường Lò Đúc. Anh sống ở Hà Nội lâu, chắc anh đã nhiều lần đi lại trên con đường ấy.

Trầm ngâm, có vẻ chị nói với mình hơn là chuyện trò với người khác:

- Hà Nội có nhiều đường cây. Đúng. Nhưng, đường Phan Đình Phùng chẳng hạn thì quá rộng, cây hai bên đường quá cách xa nhau. Đường Cổ Ngư chịu lắm nhiều điều tiếng. Phố Nguyễn Du hoa sữa quá nồng nàn… Đường Lò Đúc vừa đủ rộng cho người đi, vừa đủ hẹp cho cây giao cành. Dân ở đây  không giàu, ai cũng lo tất bật làm ăn…

Tôi nghĩ thầm nhà chị xưa chắc ở phố ấy, hay là chị có ở đấy quá nhiều kỷ niệm riêng tư một thời nào đó.
 

Phố Phan Đình Phùng

Con đường sinh ra cho người đi. Và bởi gắn bó với cuộc sống con người, mỗi con đường có cuộc sống riêng, số phận, lịch sử riêng. Mỗi đường phố là một danh nhân, một trang sử cũ, một nét văn hóa, một chuyện cổ tích. Đằng sau mỗi con đường thấp thoáng bao giai thoại buồn vui... Tôi không phải người Hà Nội, song đã sống tại thành phố hơn nửa thế kỷ, phần lớn cuộc đời. Tôi vẫn mang theo mình lề thói chân quê; lại là người hơi mơ hồ, hễ lang thang một mình qua các phố phường dọc ngang, thế nào rồi cũng “nhầm đường lạc lối”. Nghe nơi nào có di tích lịch sử, văn hóa, tôi vẫn lần đến để được nhìn tận mắt. Thầm tiếc rẻ, giá như mình được chào đời ở Hà thành, trong huyết quản có chất kinh kỳ, lại có ít nhiều cổ học như người khác, thế nào tôi cũng mày mò viết sử một số con đường, ít ra là những nơi mang nhiều ký ức.

Dù sao, qua hơn nửa thế kỷ, một quãng đường không ngắn cho một đời người dù chẳng nghĩa lý gì bên cạnh mấy ngàn năm hành trình dân tộc, bản thân tôi từng chứng kiến bao biến thiên, hạnh phúc đến cực điểm và khổ đau tận cùng, trên các nẻo đường Hà Nội.

Thời chống Mỹ, nhà tôi ở gần gò Đống Đa, nơi làm việc hằng ngày tận Bờ Hồ. Những ngày đêm địch cho máy bay B52 rải thảm bom hòng hủy diệt thủ đô ta, chúng tôi bám trụ tại cơ quan, bảo đảm cho tờ báo hằng ngày xuất bản kịp thời và không gián đoạn, để góp phần cùng quân dân ta đánh Mỹ. Cán bộ sinh hoạt ở cơ quan là chính, dù sao thi thoảng cũng phải tạt về nhà nhìn qua, đưa cái chổi quét mạng nhện và bụi bặm cho cái tổ ấm dù đã trở thành tổ lạnh. Cho đến cái đêm tiếp ngay sau đêm Noel 1972 ấy. Đế quốc Mỹ tráo trở cho B52 rải bom bừa bãi xuống phố Khâm Thiên. Gần 300 đồng bào ta hy sinh, 300 người khác bị thương, hơn 1200 ngôi nhà bị phá hủy hoặc hư hại.

Khuya ấy, công việc xuất bản tạm xong, bài vở đã chuyển hết sang nhà in, tôi một mình trở lại căn hộ, không phải lo bị thiệt hại mà chỉ để lấy cái giường xếp chân nhôm mặt bố mang đến cơ quan, với quyết tâm từ nay đêm đêm ngủ lại bên Gốc đa Hàng Trống, chẳng đoái hoài đến cái tổ của mình nữa.

Đường đi, đương nhiên phải qua phố Khâm Thiên.

Ôi con đường Khâm Thiên, từ xưa người Hà Nội ai chẳng biết. Đến những người chưa từng đặt chân đến thủ đô, ít ra cũng một đôi lần nghe tên. Điểm cư dân này nghe nói có từ thời rất xa xưa. Tương truyền tại thôn Thổ Quan (bên dãy nhà mang số lẻ đi sâu vào một ít) thời Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đã có ba anh em họ Đào nổi lên hưởng ứng. Tại cái ngõ cụt Lệnh Cư vẫn bên dãy nhà số lẻ này, nghĩa quân đã nổ lệnh báo hiệu khởi sự. Rồi cái đài Khâm Thiên Giám có đâu từ đời vua Lê Thánh Tôn…

Chẳng biết tự bao giờ, con đường phố dài chỉ hơn cây số ngày đêm lúc nào cũng náo nhiệt. Thế nhưng khuya đêm ấy, tôi vừa băng ngang qua đường xe lửa theo phố Khâm Thiên về Ô Chợ Dừa được một đoạn, chân đã dẫm trên ngổn ngang đổ nát. Đường phố không thể lưu thông. Chỉ còn có cách vác chiếc xe đạp nặng chịch lên vai, dò dẫm vượt qua ngồn ngộn gạch ngói đất đá do bom Mỹ cày xới lên, thêm được người dân phố đào bới nữa, bằng cuốc xẻng hay với hai bàn tay không, mau mau tìm kiếm những người bị nạn vùi lấp trong đó. Hôm ấy vào hạ tuần âm lịch. Trời có đỡ rét hơn mấy đêm trước phần nào, song mờ mịt sương đêm, làm cho ánh trăng hạ huyền chính đông chênh chếch ảo mờ càng thêm lạnh lẻo ma quái trên nẻo phố không đèn. Vẳng đâu đây gần xa có tiếng khóc. Không nhiều không lớn, những tiếng khóc nỉ non, những tiếng khóc tự kiềm chế, những tiếng nức nở dồn nén, gắng không vật vả gào la để khỏi làm bi đát thêm bầu không khí tang thương, tiếng khóc vẳng lên từ những căn nhà chưa sập đổ hoàn toàn, tiếng khóc của phụ nữ trẻ em lối phố đến tá túc qua đêm, ngóng tin người thân. Phảng phất trong không gian, mùi hương trầm ai đốt lên đâu đó trộn mùi khét lẹt của bom cháy chưa kịp tan, tôi có cảm giác như ngửi thấy trong sương lạnh mùi xác chết vùi lấp, tôi tưởng như tai mình nghe được tiếng trẻ con đuối sức kêu cứu ngay dưới bước chân đi. Tôi tự dặn mình, tôi tự trấn an: chỉ là ảo giác thôi, không phải mùi xác đồng bào xấu số, không phải có trẻ con còn bị vùi lấp đâu, những ai bất hạnh đã được lực lượng dân phòng và bà con quy về một chốn hoặc đưa đi cấp cứu rồi… Tôi dặn mình phải cứng rắn lên, phải hy vọng, phải gồng mình mà tin tưởng mà trông đợi mà đón chờ chiến thắng hoàn toàn cầm chắc không xa. Vác chiếc xe càng lâu càng trĩu, tôi gắng bước thật nhanh cho mau chóng vượt qua mấy đống đất gạch ngổn ngang, rồi nhảy phóc lên yên đạp hết sức, phóng thật nhanh để còn kịp mang cái giường xếp trở lại tòa soạn, nơi có những căn hầm trú bom kiên cố hơn, trước khi các đợt B 52 khác biết đâu chẳng ập đến bất thần, chưa biết lúc nào trong đêm…  

Một thời gian sau, tôi chuyển nhà về Khu Trung Tự. Ngày ngày, tôi ít đi phố Khâm Thiên mà thường chọn lối đường Kim Liên qua trước công viên Thông Nhất vào đường Nam Bộ, ga Hàng Cỏ, nếu không muốn tạt sang phố Trần Nhân Tông theo bờ hồ Thiền Quang. Dù sao các lối này cũng thông thoáng hơn phố Khâm Thiên đã trở lại nhộn nhịp. Trên nẻo đường đi đi, về về mỗi ngày hai chuyến, tôi đã chứng kiến bao cuộc chia tay, tôi đã ngóng theo bao đoàn xe chở bộ đội thần tốc vào Nam, tôi đã gửi niềm tin yêu theo bao chuyến xe lửa xình xịch trong đêm đưa bộ đội cùng vũ khí nặng lên đường…

Đường Trần Nhân Tông

Hàng Bạc

Hàng Bông

Hàng Đào

Hàng Mã

Ngay từ tháng 10-1954, sau khi tiếp quản thủ đô, là người xứ khác đến, tôi hiếu kỳ tìm xem kỳ hết các đường phố nhỏ mang tên gợi cảm Hàng Tiện Hàng Than Hàng Mắm Hàng Đường…. Tôi đã hỏi thăm phố Hàng Lọng, đến đây ngỡ ngàng nhìn tấm biển mang cái tên ngang ngược De Lattre de Tassigny, chính quyền ta chưa kịp cho tháo gỡ để thay vào đó cái tên Nam Bộ thân thương. Ngược thời gian, tôi biết thêm đây là một khúc của con đường thiên lý Bắc Nam nối liền một dải, người Pháp gọi theo dân ta là đường quan lộ (la route mandarine). Con đường thiên lý rời chốn kinh kỳ vào tận cùng phía Nam. Chính nó, con “đường quan” của tuổi thơ tôi, con đường thiên lý của quê hương tôi nay nằm về phía Nam sông Bến Hải… Trên các nẻo đường này, tướng sĩ đời Trần, đời Lê trẩy đi mở cõi. Trên các nẻo đường này, công chúa Huyền Trân gạt nước mắt “nước non ngàn dặm ra đi” (*), mang về cho đất nước sự bình yên cùng phần đất gọi là Ô Ly sính lễ của nàng, trên châu Ô ấy ở một nơi nào đó chú bé là tôi gần ngàn năm sau sẽ mở mắt chào đời.

Khoảng vài chục năm sau ngày thắng lợi trọn vẹn, khi Nam Bộ đi trước về sau đã hội nhập hoàn toàn vào đất nước liền khúc ruột, đường quan lộ, Ô Cầu Rền, phố Hàng Lọng, đường Nam Bộ trở thành Đường Lê Duẩn, ghi công một người con sinh ra trên đất Ô châu đã có nhiều cống hiến lớn cho Tổ Quốc, ông vừa từ trần đúng một năm trước. Nơi ngã tư Đại Cồ Việt, đường Lê Duẩn nối tiếp Đường Giải phóng miệt mài xuôi vào Nam. Một sự tái hiện lịch sử tuyệt vời qua những tấm biển chỉ đường.

Ôi những tên đường, những tên phố, mỗi cái tên là một trang quốc sử, một cái tên lưu giữ bao chiến công, những cái tên khắc sâu vào lòng mỗi người Việt, cho dù người đó đã hay chưa một lần đặt bước chân lên. Và tôi chợt thấu hiểu tấm lòng chị bạn người gốc Hà Nội năm nào, giữa bầu không khí tưng bừng của Sài Gòn mới giải phóng, đau đáu nghĩ về cái phố Lò Đúc có hai hàng cây giao cành của chị giữa lòng thủ đô…/


(*) Câu mở đâu lời điệu ca Huế Nam Bình (BT).

Phan Quang

Ý kiến bạn đọc

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu