Tiến tới cải thiện bất bình đẳng về giới

Đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia thụ hưởng các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội

Ngày 24/12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới (CLQGVBĐG) giai đoạn 2011-2020. Đây là công cụ rất thiết thực để đưa Luật Bình đẳng giới (BĐG) vào cuộc sống.

PV VOVNews phỏng vấn ông Phạm Ngọc Tiến - Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.  

PV: Ông kỳ vọng như thế nào về CLQGVBĐG sẽ cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay?

Ông Phạm Ngọc Tiến: Mục tiêu tổng quát Chiến lược đề ra là đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia thụ hưởng các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đây là mục tiêu rất quan trọng, nếu thực hiện được chắc chắn sẽ cải thiện tình trạng bất bình đẳng đang tồn tại ở nước ta hiện nay.

Ông Phạm Ngọc Tiến

PV: Ông có thể khái quát một số mục tiêu “nóng” nhất được những người tham gia soạn thảo Chiến lược quan tâm?

Mục tiêu chính của CLQGVBĐG:

-  Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2016-2020 từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2015 đạt tỷ lệ từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016-2020 trên 35%.

- Tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 30% vào năm 2015 và từ 35% trở lên vào năm 2020. Lao động nữ nông thôn dưới 45 tuổi được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật đạt tỷ lệ 25% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020.

- Tỷ lệ nữ ở vùng nông thôn nghèo, vùng dân tộc thiểu số có nhu cầu được vay vốn ưu đãi từ các chương trình việc làm, giảm nghèo và các nguồn tín dụng chính thức đạt 80% vào năm 2015.

- Đến năm 2015 đạt 80% và đến năm 2020 đạt trên 95% bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ.

- Tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015 và 115/100 vào năm 2020.

- Đến năm 2015, mục tiêu sẽ giảm 60% và đến năm 2020 giảm 80% sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới, tăng thời lượng phát sóng các chương trình, chuyên mục và số lượng các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới.

Ông Phạm Ngọc Tiến: Trong quá trình xây dựng Chiến lược, chúng tôi tổ chức rất nhiều hội thảo tham vấn với các Bộ, ngành Trung ương và địa phương, kể cả các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế.

CLQGVBĐG được xây dựng trên cơ sở tổng kết việc thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn đến năm 2010 và sau hơn 2 năm thực hiện Luật BĐG. Bởi Luật BĐG được lồng ghép trong tất cả các chương trình, chính sách, dự án khác, vì vậy các mục tiêu đưa ra ở đây phụ thuộc đến các chiến lược, mục tiêu khác.

Ngoài mục tiêu tổng quát như vừa nêu, còn 7 nhóm mục tiêu cụ thể, kèm theo các nhóm giải pháp để thực hiện Chiến lược này. Trong đó phải kể đến mục tiêu tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị; và mục tiêu nâng cao năng lực quản lý nhà nước về BĐG.

PV: Nhiều người băn khoăn về tính khả thi về một số mục tiêu trong Chiến lược này. Ông nhìn nhận về những ý kiến này như thế nào?

Ông Phạm Ngọc Tiến: Quả thực là như vậy. Bản thân chúng tôi trong ban soạn thảo, tổ biên tập cũng như nhiều chuyên gia cũng cảm thẩy nhiều điều còn gây tranh cãi. Có những mục tiêu được cho là đặt kỳ vọng cao quá. Ví dụ mục tiêu số 1 về tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo và các chỉ tiêu về tham chính. Thực tế khi đánh giá lại 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn đến 2010, đây là chỉ tiêu không đạt được. Chỉ tiêu đề ra là 15% cấp ủy Đảng các cấp là phụ nữ, tuy nhiên đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ đạt 9%, cấp tỉnh là 11,8%. Trong khi đó, mục tiêu Chiến lược đặt ra đến năm 2020 đạt 25% chắc chắn là sức ép rất lớn.

Chiến lược này là một bộ phận cấu thành chiến lược phát triển kinh tế- xã hội và liên quan đến các văn bản đã ra từ trước như Nghị quyết XI của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất, cho nên buộc chúng ta phải thực hiện. Nếu cả hệ thống chính trị cùng đồng lòng vào cuộc cùng những giải pháp cụ thể, thiết thực và những nguồn lực cụ thể, hy vọng đến năm 2020 chúng ta sẽ đạt được chỉ tiêu.

PV: Nhóm giải pháp nào chúng ta cần phải quan tâm nhất trong thời gian trước mắt, thưa ông?

Ông Phạm Ngọc Tiến: Theo tôi, có 2 giải pháp rất quan trọng. Thứ nhất, công tác truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi. Kinh nghiệm cho thấy, khi giải quyết vấn đề dân số kế hoạch hóa gia đình, một trong những điều kiện tiên quyết mà chúng ta thành công đó là có chiến lược truyền thông rất đúng đắn và mạnh mẽ. Điều quan trọng là nâng cao nhận thức, từ đó thay đổi hành vi từ người dân đến cán bộ lãnh đạo các cấp.

Thứ hai là nguồn lực. Rất nhiều chỉ tiêu, mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn 2010 không đạt được, bởi chúng ta thiếu nguồn lực. Vì vậy phải có những chương trình, dự án bằng nguồn kinh phí cụ thể để có thể đáp ứng được yêu cầu chúng ta đặt ra thì mới có thể thực hiện được.

Đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm bình đẳng giữa nam và nữ

PV: CLQGVBDG đã được triển khai tới các địa phương như thế nào, và chỉ đạo trước mắt các địa phương cần ưu tiên gì để triển khai chiến lược này, thưa ông?

Ông Phạm Ngọc Tiến: Sau khi CLQGVBĐG được phê duyệt, nhiều địa phương rất tích cực xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tới đây sẽ có văn bản hướng dẫn các địa phương, bộ ngành xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện chiến lược này. Đồng thời, chúng tôi sẽ tổ chức một hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2010, đồng thời triển khai thực hiện Chiến lược này. Chúng tôi cũng đang bắt tay xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015.

PV: Theo ông, khó khăn nhất ở các địa phương khi triển khai thực hiện Chiến lược này là gì, và để thực hiện hiệu quả Chiến lược chúng ta cần những yếu tố nào?

Ông Phạm Ngọc Tiến: Một trong những khó khăn chính là bộ máy. Chúng ta thiếu nguồn lực, nhân lực cũng như kỹ năng. Càng xuống cấp cơ sở càng trở nên khó khăn hơn. Đối với các địa phương, nhiệm vụ tăng thêm nhưng con người không được tăng. Các địa phương có 1 - 2 cán bộ phụ trách về giới, nhưng thường là kiêm nhiệm; bộ máy cũng chưa ổn định. Trên toàn quốc mới có 9/63 tỉnh, thành phố có Phòng BĐG, trong đó 4 tỉnh có Phòng BĐG riêng, còn lại ghép với phòng bảo vệ chăm sóc trẻ em, bảo hiểm xã hội…

Những địa phương có Phòng BĐG riêng, cán bộ chuyên trách về BĐG, công tác về giới đã đi vào quy củ. Nhưng những nơi chưa có cán bộ chuyên trách thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc kết nối từ trên xuống.

PV: Có ý kiến cho rằng chúng ta không có tham vọng sau 10 năm sau sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề về BĐG ở Việt Nam mà chỉ cần làm thế nào thay đổi được nhận thức của người dân cũng như các cấp lãnh đạo về BĐG. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Ông Phạm Ngọc Tiến: Với đặc thù nền văn hóa Á Đông, chúng ta đi sau hơn các nước rất nhiều, do đó cũng không đặt kỳ vọng sau 10 năm chúng ta sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề bất BĐG, mà phải là quá trình lâu dài. Vấn đề bây giờ là chúng ta phải chọn những hướng đi, giải pháp, làm từng việc chắc chắn.

PV: Xin chân thành cảm ơn ông!./. 

TIN BÀI LIÊN QUAN


Lại Thìn (thực hiện)