Có giả thiết cho rằng mối quan hệ giữa Việt Nam - Nhật Bản đã có từ rất sớm. Nhà nghiên cứu người Nga P. I Boriskovski cho rằng: “Từ sơ kỳ thời đại đồ đá mới, ở miền Trung nước Nhật Bản đã thể hiện những mối liên hệ với nền văn hóa Hòa Bình-Bắc Sơn ở Việt Nam”.

Tư liệu lịch sử cũng đã ghi lại rằng, vào năm 752 đã có một nhà sư Việt Nam đến Nhật Bản để dự lễ khai trương pho tượng Phật tại chùa Todaiji (東大寺) ở Nara là thủ đô của Nhật Bản thời đó. Và người Nhật Bản đầu tiên đến Giao Châu (tên nước Việt Nam thời cổ đại) là Abe (安部).

Chùa Todaiji ở Nara. Ảnh: Kaiunsuppli.

Theo giáo sư Hà Văn Tấn thì vào những năm 1274 và năm 1281 khi Hốt Tất Liệt phái hạm đội sang đánh các đảo Tsushima, Iki, vịnh Hakojaki của Nhật Bản, đã bị nhân dân Nhật Bản kháng cự lại, khiến cho quân Mông-Nguyên thất bại thảm hại.

Đang dự định tấn công Nhật Bản lần nữa thì Hốt Tât Liệt lại chuyển sang xâm lược Giao Chỉ (Việt Nam). Chính điều này ngẫu nhiên sự yên bình của Nhật Bản được trở lại, và điều này được các nhà sử học Nhật Bản thừa nhận rằng đã góp phần vào tình hữu nghị chiến đấu chống kẻ thù chung của dân tộc Việt Nam-Nhật Bản.

Theo nhiều tài liệu cổ của Nhật Bản, thì ngay từ rất sớm Nhật Bản đã tăng cường giao lưu với bên ngoài, đặc biệt là với các nước như Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha... Chính sự giao lưu này không những làm phát triển Nhật Bản, mà còn làm thay đổi tư duy vốn từ lâu bị lệ thuộc vào tư duy truyền thống. Và Việt Nam cũng là một vùng đất mà người Nhật hướng tới. Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh ngay từ đầu thế kỷ 15 đã có một số ít người Nhật Bản tới buôn bán ở Việt Nam.

Chính vì vậy, trong giai đoạn này Hội An rất nhộn nhịp với việc người Nhật Bản thành lập khu phố của người Nhật với lối sống riêng, phong tục riêng. Con phố này dài tới gần 2km, đã có lúc có tới hơn 100 hộ với gần 1000 người Nhật Bản lưu trú tại đây.

Nhà nghiên cứu Nhật Angurao Sadao đã viết trong tác phẩm “Người Nhật thời kỳ Châu Ấn thuyền” như sau: “So với phố của người Hoa thì phố Nhật bao gồm cả những ngôi nhà hai tầng, có cấu trúc cầu kỳ hơn, các ngôi nhà làm san sát vào nhau. Trong đó có những ngôi nhà làm ba tầng rất tinh tế.”

Tuy nhiên, trong giai đoạn này người Nhật không chỉ tập trung buôn bán ở Hội An mà cũng buôn bán rất sớm với Phố Hiến (Hưng Yên ngày nay), Thanh Hà (Huế), Touran (Đà Nẵng).

Một phần bức Họa phẩm Châu ấn thuyền Giao Chỉ độ hàng đồ quyển mô tả cảnh phố người Nhật ở Hội An và Dinh trấn Quảng Nam.

Năm 1635, do lệnh bế quan tỏa cảng của Nhật Bản mà việc thông thương giữa Nhật Bản và Việt Nam bị gián đoạn. Một số người Nhật lưu lại tại Hội An và sinh sống tại đây. Trong số đó có Araki Sotaro và Shicho Eikichi. Năm 1626 Satoro kết hôn với công chúa Ngọc Hoa (con Chúa Nguyễn Phúc Nguyên).

Sau này công chúa cùng chồng trở về quê chồng ở Nagasaki và mất tại đây vào năm 1643 (có sách viết vào năm 1645). Hiện đền thờ công chúa vẫn còn ở Nagasaki. Tại Bảo tàng nghệ thụât thành phố còn trưng bày chiếc gương có bốn chữ “An Nam Quốc kính” mà Công chúa đem về từ Việt Nam. Đây cũng có thể là kỷ vật mà Chúa Nguyễn đã tặng cho Công chúa khi đi lấy chồng.

Đây là một yếu tố mang tính chính trị, vừa tỏ thiện chí bang giao, vừa mong muốn quan hệ buôn bán được rộng mở, góp phần vào lợi ích chung của hai bên. Việc gả Công chúa cho “rể” người nước ngoài không còn mới trong tiến trình lịch sử Việt Nam, nhưng trong mỗi giai đoạn khác nhau thì mục đích lại khác nhau.

Trong thời gian ở Hội An, Araki Sotaro đã giúp Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hàng năm tổ chức đội thuyền ra quần đảo Hoàng Sa để thu hàng hoá, vũ khí của các tàu bị đắm và hải vật. Đây cũng có thể là một chứng cứ lịch sử được nghi chép lại không những ở Việt Nam mà còn ở Nhật Bản về chủ quyền của Việt nam ở quần đảo Hoàng Sa.

Chùa Cầu được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII do các thương nhân Nhật Bản thực hiện. Ảnh: Hà Phương.

Gần đây, các nhà khảo cổ học của Nhật Bản đã phát hiện ra rằng gốm sứ của Việt Nam xuất hiện nhiều ở Nagasaki, Sakai, Kyoto, Tokyo… cũng như gốm sứ của Nhật Bản (đặc biệt là gốm Hizen) có rất nhiều ở Tràng Tiền (Hà Nội), Phố Hiến (Hưng Yên), Mộ Mường (Hoà Bình), Lam Sơn (Thanh Hoá), Thanh Hà (Huế), Hội An (Quảng Nam)...

Phó Thống đốc tỉnh Nagasaki, ông Hirata Ken tự hào rằng tỉnh Nagasaki từ hơn 400 năm trước đã có quan hệ đặc biệt với Việt Nam thông qua Châu Ấn thuyền. Châu Ấn thuyền và câu chuyện của Araki Sotaro và Công chúa Ngọc Hoa (người dân địa phương gọi là Nàng Anio) là tượng trưng cho sự hợp tác hữu nghị giữa hai bên. Đối với Nagasaki, đây là lịch sử quý báu và tài sản vô giá.

Có thể nói trong vòng hơn 50 năm quan hệ với người Việt ở Hội An, người Nhật đã để lại những dấu ấn văn hoá riêng thông qua phố người Nhật, di tích Nhật Bản. Đây là những chứng cớ lịch sử quý giá cho chúng ta khi nghiên cứu về lịch sử quan hệ Việt Nam-Nhật Bản.

Ảnh: Bùi Hùng, Người lao động.

Phong trào Đông Du do Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) khởi xướng đầu thế kỷ 20 mở ra giai đoạn phát triển mới trong tư duy của người Nhật Bản đối với Việt Nam.

Năm 1868 thời kỳ Minh Trị (Meiji) ở Nhật Bản bắt đầu. Cũng chính lúc này, Nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu với một niềm tin sẽ dựa vào Nhật Bản để kháng chiến chống Pháp đã lập ra phong trào Đông Du (đi về phía Đông). Với mục đích học tập Nhật Bản, tháng 1/1905, lần đầu tiên một số sĩ phu Việt Nam do Phan Bội Châu đứng đầu sang Nhật. Từ lời giới thiệu của Lương Khải Siêu, sĩ phu Việt Nam đến gặp một số nhà yêu nước, ủng hộ Việt Nam như Okumura, Kashiwabara Buntaro, bác sĩ Asaba Sakitaro.

Từ năm 1906, phong trào Đông Du đi vào hoạt động ngày càng rầm rộ trên cả ba miền đất nước, hàng loạt các tác phẩm của Phan Bội Châu được dịch từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ, gửi về nước. Từ năm 1907-1908 là thời kỳ phong trào Đông Du phát triển mạnh nhất với trên 200 lưu học sinh.

Cũng trong lúc này hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền ở Nhật Bản, Okuma Shigenobu và Thủ tướng Inukai Tsuyoshi khuyên Phan Bội Châu nên cổ động thanh niên ra nước ngoài học tập để sau này về giúp nước. Từ sự ủng hộ này mà các thanh niên Việt Nam rất chú tâm vào việc học tập, hy vọng sau này cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Khi học sinh Việt Nam vào học trong các trường của Nhật Bản, thì chương trình, quy tắc học ở trường đều do người Nhật quy định, còn ngoài trường đều do ta tự quản lí. Phan Bội Châu và các đồng chí của ông đã lập ra Hội Việt Nam Công Hiến (tháng 10/1907) có chương trình riêng. Hệ thống tổ chức bố trí nhân sự và điều hành hoạt động ở đây tựa như một “Chính phủ lâm thời”.

Cũng chính vào lúc này, thực dân Pháp đã tìm ra nhiều manh mối của phong trào, chúng cấu kết với Nhật để xúc tiến đàn áp. Tháng 9/1908, khi các học sinh Trường Chấn Võ đang làm lễ tốt nghiệp thì Bộ Nội vụ Nhật hạ lệnh giải tán tổ chức học sinh Việt Nam, tịch thu các văn kiện, đuổi học sinh ra ngoài nước Nhật. Tháng 2/1909, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất khỏi nước Nhật.

Trước tình hình đó, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông phải về lánh nạn ở Trung Quốc, qua Xiêm hoạt động một thời gian với mục đích chờ đợi những cơ hội mới.

Tình hình lúc này rất khó khăn, kinh phí để cho lưu học sinh về nước trở thành vấn đề lớn đối với Phan Bội Châu. Đúng lúc này, bác sĩ Asaba Sakitaro đã ủng hộ 1700 yên. Số tiền này đã cưu mang nhiều học sinh Việt Nam. Không chỉ lúc này, trước đó bác sĩ Asaba cũng đã giúp đỡ rất nhiều về mặt vật chất đối với việc tạo dựng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu.

Chính sự giúp đỡ vô tư và trong sáng này mà sau đó khi “trời yên biển lặng”, Phan Bội Châu cùng một số anh em khác đã sang tận quê hương của Asaba (lúc này đã qua đời) để dựng bia tưởng niệm vị ân nhân này. Văn bia có đoạn viết: “Hảo hớn xưa nay, nghĩa đầy trong ngoài. Ông giúp như trời, Tôi chịu như bể, chí Tôi chưa thành, Ông không chờ Tôi. Lòng này đau thương, đến ức vạn năm. Tất cả người của Hội Việt Nam Quang phục xin nghi lại”.

Tấm bia này vừa thể hiện tấm chân tình của Phan Bội Châu đối với những người đã giúp mình, vừa thể hiện mối quan hệ sâu sắc giữa nhân dân hai nước.

Hậu duệ đời thứ 3 của bác sĩ Asaba. Ảnh: Bùi Hùng.

Năm 2003 nhân kỷ niệm 85 ngày Phan Bội Châu dựng bia tưởng niệm, Hội yêu nước của tỉnh Shizuoka đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm này. Một số nhà khoa học Việt Nam cũng sang dự lễ. Năm 2010 nhân kỷ niệm 105 phong trào Đông Du, phía Nhật Bản, Hội Asaba Việt Nam tổ chức kỷ niệm Phan Bội Châu và tặng cho Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phù điêu và mô hình tấm bia Asaba.

Hội hữu nghị Asaba Việt Nam là một Tổ chức phi Chính phủ của Nhật Bản được thành lập nhằm tăng cường tình đoàn kết giữa hai dân tộc lấy cảm hứng từ câu chuyện truyền kỳ về tình bạn giữa cụ Phan Bội Châu và Bác sĩ Asaba. Chủ tịch Hội là ông Yukiho Amma.

Hội đã có những hoạt động tích cực như phối hợp tổ chức các lễ kỉ niệm 100 năm phong trào Đông Du tại Việt Nam, quyên góp xây dựng các lớp học cho tỉnh Quảng Nam, giới thiệu về phong trào Đông Du cho học sinh các trường tiểu học ở thành phố Fukuroi, Tỉnh Shizuoka (nơi có bia tưởng niệm Cụ Phan Bội Châu), giúp đỡ các du học sinh Việt Nam tại thành phố Fukuroi... Năm 2017, Hội đã tổ chức kỉ niệm 150 ngày sinh của Phan Bội Châu và Asaba tại ngôi làng Fukuroi, nơi đã lưu nhiều dấu ấn của Việt Nam tại Nhật Bản.

Để tuyên truyền rộng rãi về hoạt động của Hội, năm 2015, ông Amma đã lập ra một trang facebook riêng thu hút hàng nghìn thành viên tham gia. Tại đây, những thông tin liên quan đến hoạt động của các cá nhân, tổ chức, lãnh đạo hai nước đến viếng thăm, tìm hiểu về lịch sử bia Tưởng niệm Sakaba của Cụ Phan Bội Châu được chia sẻ. Thông quá đó, thế hệ trẻ hai nước hiểu thêm về cội nguồn lịch sử quan hệ hai nước, càng thêm tin tưởng gắn bó.

Ngày 22/9/2018, tại thành phố Fukuroi, tỉnh Shizuoka đã diễn ra Lễ kỷ niệm 100 năm ngày Phan Bội Châu lập bia ghi nhớ công ơn Bác sĩ Sakitaro Asaba. Sự kiến đã tái hiện quá trình lịch sử và cuộc gặp gỡ đầy nhân duyên giữa nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu và bác sĩ Asaba Sakitaro-minh chứng tồn tại vĩnh viễn và đầy ý nghĩa trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Ông Phan Thiệu Cát (hậu duệ đời thứ 3 của cụ Phan Bội Châu) (trái) cùng tác giả Bùi Hùng.

Ông Phan Thiệu Cát (hậu duệ đời thứ 3 của cụ Phan Bội Châu, hiện đang sống tại Canada) tại buổi lễ đã rất xúc động khi được bày tỏ lòng biết ơn của cá nhân ông đối với bác sĩ Asaba Sakitaro, hậu duệ của bác sĩ, dân làng Higashi Asaba đã giúp đỡ cụ Phan Bội Châu trong giai đoạn tìm con đường giải phóng dân tộc thoát khỏi áp bức, bóc lột của thực dân Pháp.

Ông cho rằng sự giúp đỡ của bác sĩ Asaba không đơn thuần là vật chất mà là sự giúp đỡ của một trí tuệ nhưng đầy từ bi và bác ái. Chính điều này làm ông mong muốn sẽ cùng con cháu tận lực hết sức để vun đắp tình yêu thương, tình bạn giữa nhân dân và dân tộc Việt Nam-Nhật Bản.

Hiện nay, mỗi năm có hàng trăm người Việt Nam vẫn đều đặn trở lại thăm lại ngôi làng Higashi Asaba, nơi có mộ phần của gia đình Asaba Sakitaro và tấm bia tưởng niệm của cụ Phan Bội Châu. Những dòng chữ trên tấm bia: “Chúng tôi vì hoàn cảnh cơ cực mà đến Nhật Bản. Ngài Sakitaro đã đồng cảm với ý chí của chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi một cách vô vị lợi. Ngài Sakitaro là một người xuất chúng, luôn coi trọng công lý và sẵn sàng giúp đỡ những người yếu thế. Vậy mà giờ đây Ngài không còn nữa. Nỗi lòng chúng tôi không biết ngỏ cùng ai.”     vẫn như dòng chảy không ngừng, bồi đắp cho mối quan hệ tốt đẹp xuyên suốt từ quá khứ tới tương lai./.