/
--°C

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, lần đầu tiên đối ngoại và hội nhập quốc tế được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, được đặt song hành cùng với quốc phòng và an ninh. Đây là bước phát triển lớn về tư duy chiến lược và lãnh đạo của Đảng trong việc định vị vai trò của công tác đối ngoại. Đối ngoại phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn chặt với lợi ích quốc gia - dân tộc và mục tiêu phát triển dài hạn. 

Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh đối ngoại đã trở thành một cấu phần của năng lực tổng hợp quốc gia và phải phục vụ trực tiếp đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế

Đây là một yêu cầu vừa mang tính chiến lược, vừa đặt ra những đòi hỏi rất cụ thể đối với cách thức triển khai công tác đối ngoại. Nếu trước đây, thành công của ngoại giao thường được nhìn nhận qua việc mở rộng quan hệ, duy trì môi trường hòa bình, nâng cao vị thế quốc gia, thì trong giai đoạn phát triển mới, thước đo ấy cần được mở rộng hơn: đối ngoại phải góp phần biến những quan hệ tốt đẹp thành nguồn lực phát triển cụ thể. 

Đó có thể là một thị trường mới cho doanh nghiệp Việt Nam, một dòng vốn đầu tư chất lượng cao, một công nghệ chiến lược được chuyển giao, một cơ hội hợp tác nghiên cứu, một chuỗi cung ứng mới được kết nối hay một điều kiện thuận lợi hơn để nền kinh tế nâng cao tính tự chủ. Nói cách khác, đối ngoại không đứng bên ngoài quá trình phát triển kinh tế. Đối ngoại phải tham gia vào quá trình ấy với vai trò mở đường, kết nối và kiến tạo cơ hội. 

Nhìn lại chặng đường hội nhập, có thể thấy Việt Nam đã tạo dựng được một mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng mở và ngày càng thực chất. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có đầy đủ 193 nước thành viên Liên Hợp Quốc; có quan hệ đối tác từ mức Đối tác toàn diện trở lên với 42 nước; đặc biệt, đã xây dựng quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và nhiều nền kinh tế hàng đầu thế giới. Việt Nam hiện là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, tham gia ngày càng sâu rộng vào các cơ chế hợp tác đa phương quan trọng.

Những năm gần đây, Việt Nam đã chủ động, tích cực đảm nhiệm và hoàn thành tốt nhiều trọng trách quốc tế; phát huy vai trò xây dựng, điều phối tại các diễn đàn lớn như Liên Hợp Quốc, ASEAN, APEC, WEF, P4G; tổ chức thành công nhiều sự kiện đa phương có tầm ảnh hưởng khu vực và toàn cầu; tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, hợp tác quốc phòng đa phương và xử lý các thách thức an ninh phi truyền thống. 

Trong một thế giới mà chỉ một thay đổi công nghệ có thể làm dịch chuyển cả chuỗi cung ứng, một biến động địa chính trị có thể ảnh hưởng trực tiếp tới dòng vốn và thị trường, mạng lưới quan hệ quốc tế rộng mở chính là một lợi thế phát triển. 

Việt Nam đã thu hút hàng trăm tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, hội nhập kinh tế quốc tế đóng vai trò là “hệ điều hành” giúp nền kinh tế Việt Nam vận hành nhịp nhàng với dòng chảy toàn cầu. Theo đó, việc mở rộng không gian phát triển với mạng lưới 17 Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã ký kết, Việt Nam đã kết nối với các thị trường chiếm gần 90% GDP toàn cầu. Từ một nền kinh tế thiếu vốn, phụ thuộc nhiều vào viện trợ quốc tế, Việt Nam trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện chiếm hơn 180% GDP, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 75%.

Việt Nam thu hút 34,65 tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài cam kết trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước. Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam thu hút 17,39 tỉ USD vốn đầu tư đăng ký mới từ 2.013 dự án, tăng 87,2% so với cùng kỳ năm 2025. Trong những kết quả đạt được đó, đối ngoại đã góp phần mở rộng thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, thu hút vốn, công nghệ và tri thức. 

Thế giới đang chứng kiến cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; kinh tế, thương mại, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và chuỗi cung ứng ngày càng gắn chặt với chính trị và an ninh. Đặc biệt, khoa học - công nghệ đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, mô hình quản trị và tương quan sức mạnh giữa các quốc gia. 

Các quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện được xây dựng với những quốc gia lớn trên thế giới vì thế không chỉ có ý nghĩa về chính trị - ngoại giao. Đây còn là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận những hệ sinh thái công nghệ tiên tiến, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và các công nghệ chiến lược. 

Những hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới là những minh chứng cho khả năng biến quan hệ đối ngoại thành cơ hội kinh tế và công nghệ cụ thể. Nhưng mở được cánh cửa mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là đi qua cánh cửa ấy bằng năng lực nội sinh đủ mạnh. 

Trong bối cảnh ấy, lợi thế của một quốc gia không còn chỉ được quyết định bởi quy mô thị trường hay nguồn tài nguyên. Khả năng làm chủ công nghệ chiến lược, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành những yếu tố quyết định vị thế cạnh tranh. 

Điều đó đặt ra một yêu cầu mới cho đối ngoại Việt Nam: không chỉ đi trước để nhận diện những chuyển động của thế giới, mà phải chủ động tìm kiếm và kết nối những nguồn lực có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng mới cho đất nước. 

Đối ngoại vì thế phải trở thành một trong những kênh quan trọng để mở đường cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 

Tại phiên họp toàn thể Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, với chủ đề “Ngoại giao phục vụ phát triển đất nước”, Trung tướng Tào Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel đã chia sẻ những kết quả và bài học của doanh nghiệp sau nhiều năm đầu tư ra nước ngoài. 

Theo Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng, Viettel hiện phục vụ 90 triệu khách hàng tại 10 thị trường viễn thông nước ngoài, trong đó 7 thị trường giữ vị trí số 1 về thị phần. Doanh thu từ đầu tư quốc tế của tập đoàn đã tăng trưởng hai chữ số trong 9 năm liên tiếp. Trong 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu của khối này tăng 26%, đóng góp 40,5% vào mức tăng trưởng chung của tập đoàn. Mỗi năm, các thị trường quốc tế chuyển về Việt Nam khoảng 400 triệu USD. Dòng tiền này tiếp tục được Viettel đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và những lĩnh vực chiến lược khác.

Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng nhấn mạnh, ngoại giao có thể mở ra những cánh cửa, nhưng doanh nghiệp phải có đủ năng lực để bước qua, đủ bản lĩnh để đứng vững và biến cơ hội thành giá trị cụ thể. Nhiều cơ hội đầu tư, hợp tác của Viettel bắt đầu từ các chuyến thăm, cuộc tiếp xúc cấp cao và khuôn khổ quan hệ do Đảng, Nhà nước cùng ngành ngoại giao xây dựng. Trong quá trình triển khai dự án, Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ doanh nghiệp tìm hiểu thị trường, tiếp cận cơ quan có thẩm quyền và tháo gỡ những vấn đề mà một doanh nghiệp riêng lẻ khó tự giải quyết. Đây là một trong những yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp Việt Nam tự tin mở rộng hoạt động quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

“Nếu chỉ mở rộng doanh thu, doanh nghiệp có thể trở nên lớn hơn về quy mô. Tuy nhiên, chỉ khi tiếp nhận và làm chủ các nguồn lực hiện đại, doanh nghiệp mới nâng cao được năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững và đóng góp vào khả năng tự chủ của nền kinh tế. Theo cách tiếp cận này, mỗi thị trường nước ngoài không đơn thuần mang lại khách hàng, thị phần và lợi nhuận. Đó còn là nơi công nghệ Việt Nam được kiểm chứng, nguồn nhân lực được rèn luyện và thương hiệu quốc gia được khẳng định”, Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng khẳng định.

Câu chuyện của FPT cũng cho thấy một hướng vận động tương tự, ở một lĩnh vực khác của nền kinh tế số. Theo ông Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc FPT, Tổng Giám đốc FPT Software, việc đẩy mạnh ngoại giao kinh tế và ngoại giao công nghệ là một quyết sách kịp thời, thậm chí có tính sống còn đối với chặng đường phát triển tiếp theo của Việt Nam, trong bối cảnh phần lớn các nền kinh tế trên thế giới hiện phát triển dựa trên nền kinh tế số và công nghệ cao.

“Lợi thế về nhân công giá rẻ hay quy mô thị trường đã trở thành câu chuyện của quá khứ. Bây giờ, nói đến lợi thế là nói đến quyền tiếp cận công nghệ mới, quyền kết nối với các trung tâm sáng tạo hàng đầu thế giới và quyền khai thác công nghệ để phát triển kinh tế số”, ông Phạm Minh Tuấn nói. Theo ông, nhiều năm qua, chính sách này đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam như FPT kết nối, giao lưu và tiếp cận sớm những ý tưởng, công nghệ mới, chuẩn bị tham gia vào chuỗi kiến tạo giá trị mới trên toàn cầu.

Ở chiều đối ngoại kinh tế phục vụ doanh nghiệp công nghệ vươn ra thế giới, số liệu kinh doanh của FPT phần nào minh chứng cho nhận định này. Năm 2023, FPT lần đầu tiên đạt quy mô doanh thu thu 1 tỷ USD từ thị trường nước ngoài. Trong 7 tháng đầu năm 2026, doanh thu lĩnh vực dịch vụ công nghệ thông tin cho thị trường nước ngoài của FPT đạt 22.362 tỷ đồng (tương đương 860 triệu USD), tăng 14,4% so với cùng kỳ; riêng thị trường trọng điểm Nhật Bản tăng 23,9%. Khối lượng hợp đồng ký mới tại nước ngoài đạt 31.401 tỷ đồng (tương đương 1,2 tỷ USD), tăng 32,3%, chủ yếu nhờ các hợp đồng hạ tầng AI quy mô lớn và hợp tác với các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới. Hiện Tập đoàn công nghệ này là đối tác chuyển đổi số, chuyển đổi AI của hơn 1.100 doanh nghiệp trong đa lĩnh vực tại 30 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trong giai đoạn hội nhập trước đây, mở cửa thị trường và thu hút đầu tư là những ưu tiên lớn. Nhưng trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đã cao hơn: Việt Nam cần hướng tới những dòng vốn có chất lượng cao hơn, công nghệ tiên tiến hơn, năng lực quản trị tốt hơn và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế. 

“Go Global” không chỉ là đưa hoạt động kinh doanh vượt qua biên giới, mà còn là quá trình mở rộng năng lực của doanh nghiệp, kết nối thêm nguồn lực và đóng góp trở lại cho nền kinh tế Việt Nam.

Nếu nguồn lực tự nhiên từng là lợi thế quan trọng trong quá trình phát triển, thì trong nền kinh tế tri thức, công nghệ và con người đang trở thành những nguồn lực quyết định. Đối với Việt Nam, đây là cơ hội lớn nhưng cũng là sức ép lớn. 

Nếu tận dụng tốt mạng lưới đối tác quốc tế để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hàng đầu, Việt Nam có thể rút ngắn đáng kể thời gian phát triển. Ngược lại, nếu chậm chân trong cuộc đua công nghệ, khoảng cách phát triển có thể không thu hẹp mà còn bị nới rộng. 

Bởi vậy, ngoại giao khoa học - công nghệ cần được nhìn nhận như một bộ phận của chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài không chỉ cần nắm bắt chính sách của nước sở tại, mà còn phải nhận diện được các trung tâm công nghệ, những xu hướng công nghệ mới, các nhà khoa học, tập đoàn và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng hợp tác với Việt Nam. 

Quan trọng hơn, những thông tin và kết nối đó phải được chuyển hóa thành những cơ hội cụ thể ở trong nước. Đó là lúc vai trò của người làm đối ngoại không chỉ nằm ở năng lực ngoại ngữ, lễ tân hay đàm phán, mà còn ở khả năng hiểu công nghệ, hiểu doanh nghiệp, hiểu thị trường và hiểu nhu cầu phát triển của đất nước. 

Ngoại lực chỉ trở thành động lực phát triển khi được hấp thụ bằng nội lực. Công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi có nhân lực đủ khả năng làm chủ. Vốn đầu tư chỉ tạo ra giá trị bền vững khi được đặt trong một môi trường thể chế, hạ tầng và doanh nghiệp đủ năng lực tiếp nhận. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra với đối ngoại không thể tách rời yêu cầu đổi mới ở bên trong nền kinh tế. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt từ 10%/năm trở lên, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao. 

Để rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tránh nguy cơ tụt hậu trong một thế giới thay đổi nhanh, Việt Nam cần một mô hình tăng trưởng mới dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong mô hình đó, đối ngoại phải đóng vai trò kết nối hai chiều. 

Một chiều là đưa Việt Nam ra thế giới: mở rộng thị trường, kết nối doanh nghiệp, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, xây dựng thương hiệu và nâng cao vị thế của nền kinh tế. Chiều ngược lại là đưa nguồn lực của thế giới vào Việt Nam: vốn, công nghệ, tri thức, nhân lực, kinh nghiệm quản trị và những mô hình phát triển mới. Nhiệm vụ này đã đặt ra yêu cầu mới về phương pháp làm đối ngoại. “Tiên phong” không chỉ có nghĩa là nhìn thấy sớm, tham mưu đúng và hành động kịp thời. Tiên phong còn phải là theo sát công việc đến cùng, chủ động tháo gỡ khó khăn và chịu trách nhiệm về kết quả. Đặc biệt với ngoại giao kinh tế, yêu cầu này càng rõ nét. 

Một chuyến thăm cấp cao, một bản ghi nhớ hợp tác hay một thỏa thuận được ký kết chỉ thực sự có ý nghĩa khi sau đó có được dự án, hợp đồng, dòng vốn, công nghệ và những giá trị mới cho nền kinh tế. Vì vậy, ngoại giao kinh tế không thể dừng lại ở việc “ký được gì”, mà phải hướng tới câu hỏi “làm được gì sau khi ký”. 

Từ việc kết nối ban đầu đến tháo gỡ vướng mắc, từ xúc tiến đến triển khai, từ cam kết đến kết quả cuối cùng, chuỗi công việc ấy đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan đối ngoại, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và toàn bộ hệ thống chính trị. Đó cũng là sự chuyển đổi từ tư duy “đại diện” sang tư duy “kiến tạo phát triển”.

Tác giả: Đặng Khanh, Lê Hoàng, Hoàng Phạm, Hùng Cường, Hoài Lam

Trình bày: CTV Quốc Phòng

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

VOV.VN trên Google News