


Trải qua tiến trình lịch sử, có thể thấy, mỗi bước tiến công nghệ lớn đều có khả năng làm thay đổi phương thức sản xuất, cấu trúc kinh tế, năng lực quốc phòng - an ninh và vị thế của một quốc gia trong hệ thống quốc tế.
Ngày nay, sự chuyển dịch ấy diễn ra với tốc độ chưa từng có. Trí tuệ nhân tạo đang thay đổi cách con người sản xuất, quản trị và sáng tạo. Công nghệ bán dẫn trở thành nền tảng của hầu hết các ngành công nghiệp hiện đại. Công nghệ sinh học mở ra những không gian phát triển mới trong y tế, nông nghiệp và công nghiệp. Công nghệ lượng tử, robot, vật liệu mới, không gian và các công nghệ chiến lược khác đang hình thành những lợi thế cạnh tranh mới giữa các quốc gia.

Thông điệp được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tại Diễn đàn kết nối công nghệ Việt Nam - Singapore khẳng định: thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc, nơi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là động lực tăng trưởng, mà đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia và vị thế của mỗi nền kinh tế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, năng lượng sạch hay kinh tế số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh và cách thức vận hành của nền kinh tế thế giới. Quốc gia nào làm chủ được công nghệ chiến lược sẽ có khả năng dẫn dắt tương lai.
Đó không chỉ là một nhận định về xu thế. Đối với Việt Nam, đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Bởi trong một thế giới mà công nghệ ngày càng trở thành nguồn lực của sức mạnh quốc gia, nếu chỉ đứng ở vị trí tiếp nhận công nghệ, tham gia khâu gia công hoặc khai thác sản phẩm do người khác tạo ra, khoảng cách phát triển sẽ rất khó được thu hẹp. Ngược lại, nếu từng bước làm chủ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, Việt Nam có thể có chỗ đứng tốt hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu: từ tham gia sang đóng góp, từ tiếp nhận sang đồng sáng tạo, từ sử dụng công nghệ sang từng bước tạo ra công nghệ.

Nhìn lại lịch sử phát triển của một số nền kinh tế ở châu Á, có thể thấy một điểm chung: khoa học, công nghệ và năng lực con người đã trở thành đòn bẩy để những quốc gia, nền kinh tế từng ở vị thế hạn chế về nguồn lực vươn lên mạnh mẽ.
Hàn Quốc là một trường hợp điển hình. Từ một đất nước chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, Hàn Quốc đã tạo nên “Kỳ tích sông Hàn” bằng chiến lược phát triển công nghiệp, đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu và từng bước nâng cao năng lực công nghệ. Bán dẫn sau đó trở thành một trong những ngành công nghiệp chiến lược, đưa các doanh nghiệp Hàn Quốc vào nhóm có ảnh hưởng lớn trên thị trường công nghệ toàn cầu.

Vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) cũng cho thấy một nền kinh tế với quy mô không lớn vẫn có thể trở thành mắt xích đặc biệt quan trọng trong chuỗi giá trị thế giới nếu lựa chọn đúng lĩnh vực chiến lược và kiên trì đầu tư vào năng lực công nghệ.
Singapore lại đi theo một hướng khác: sử dụng khoa học, công nghệ, giáo dục và năng lực kết nối quốc tế để nâng cấp một quốc gia nhỏ trở thành trung tâm kinh tế, tài chính và công nghệ có sức ảnh hưởng lớn trong khu vực.
Những câu chuyện ấy cho thấy một bài học có giá trị đối với Việt Nam: hội nhập quốc tế chỉ thực sự tạo ra sức mạnh phát triển khi quốc gia có khả năng hấp thụ, làm chủ và chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành năng lực bên trong.

Tư duy đó đang từng bước được thể chế hóa. Ngày 30/4/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược. Việt Nam xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược gồm: Công nghệ số (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối); Công nghệ mạng di động thế hệ sau; Công nghệ robot và tự động hóa; Công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; Công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; Công nghệ chip bán dẫn; Công nghệ an ninh mạng và lượng tử; Công nghệ biển, đại dương và lòng đất; Công nghệ hàng không và vũ trụ; Công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Trên thực tế, định hướng danh mục công nghệ chiến lược quốc gia đang được một số doanh nghiệp công nghệ lớn trong nước cụ thể hóa bằng hành động. Tháng 12/2025, Tập đoàn FPT thành lập Ban Chỉ đạo Công nghệ chiến lược do Chủ tịch Trương Gia Bình làm Trưởng ban, phụ trách 5 mảng công nghệ lõi gồm: trí tuệ nhân tạo kết hợp công nghệ lượng tử và an ninh mạng (thông qua Viện Nghiên cứu Quantum AI & Cyber Security - QACI), thiết bị bay không người lái, công nghệ đường sắt, an toàn an ninh mạng và hạ tầng dữ liệu lớn. Riêng với QACI, FPT cam kết đầu tư khoảng 100 triệu USD, đặt mục tiêu đến năm 2035 đào tạo 100 tiến sĩ, bồi dưỡng 2.000 chuyên gia công nghệ trình độ cao và công bố 500 công trình khoa học, bằng sáng chế. Đồng thời, FPT cũng chủ động kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học người Việt ở nước ngoài - những người đã có nhiều năm nghiên cứu tại các trung tâm công nghệ lớn của Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu - để cùng các đơn vị trong nước xây dựng lực lượng chuyên gia cho những công nghệ mới của đất nước. FPT cũng đang hợp tác và bàn bạc với Đại học Bách khoa Hà Nội hướng tới thành lập khoa công nghệ lượng tử đầu tiên tại Việt Nam, kết hợp năng lực thực chiến của doanh nghiệp với nền tảng đào tạo học thuật để tạo nguồn nhân lực lượng tử dài hạn cho quốc gia.
Đây là một minh chứng cho thấy danh mục công nghệ chiến lược quốc gia không chỉ dừng ở định hướng chính sách, mà đang từng bước được khu vực doanh nghiệp chuyển hóa thành năng lực nghiên cứu và sản phẩm cụ thể.

Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt hợp tác quốc tế vào một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển. Nghị quyết yêu cầu tập trung đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với những quốc gia có trình độ cao, nhất là trong các lĩnh vực AI, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử và các công nghệ chiến lược khác; đồng thời chủ động tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế về công nghệ mới.
Bước chuyển quan trọng tiếp theo đến từ tư duy về hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một nhóm nhiệm vụ riêng, gắn với yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước.
Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cũng đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh ngoại giao khoa học, công nghệ từ “tiếp cận” sang “chủ động kiến tạo”, coi đây là công cụ tiên phong nhằm nâng cao năng lực nội sinh và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo định hướng được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nêu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, ngoại giao khoa học, công nghệ cần tập trung vào 5 nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, cần chủ động nghiên cứu, tham mưu và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Việc tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia phát triển đã giúp Việt Nam từng bước đổi mới cơ chế quản lý khoa học theo hướng lấy kết quả đầu ra làm thước đo, đồng thời xây dựng chính sách đủ sức cạnh tranh để thu hút đội ngũ nhà khoa học chất lượng cao.
Có thể kể tới việc FPT ký kết hợp tác chiến lược với Silvaco (Mỹ) để phát triển nguồn nhân lực bán dẫn dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ, hay thỏa thuận hợp tác nghiên cứu, thiết kế chip thế hệ mới với ABOV Semiconductor (Hàn Quốc) được ký trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc, trước sự chứng kiến của lãnh đạo cấp cao hai nước. Đây là những kết quả cụ thể của việc gắn hoạt động ngoại giao cấp cao với nhu cầu chuyển giao công nghệ chiến lược của doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai là đẩy mạnh tìm kiếm và kết nối chuyển giao công nghệ. Theo Bộ trưởng, Việt Nam không thể làm chủ ngay các công nghệ chiến lược nếu thiếu hợp tác quốc tế. Vì vậy, cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ với các đối tác nước ngoài, từng bước nâng cao năng lực làm chủ công nghệ.
Thứ ba, Việt Nam cũng cần tích cực xúc tiến, thu hút các đối tác và tập đoàn công nghệ chiến lược đầu tư. Bên cạnh nguồn nhân lực chất lượng, môi trường chính trị ổn định và khát vọng phát triển của quốc gia là những yếu tố quan trọng để thu hút doanh nghiệp công nghệ toàn cầu mở rộng đầu tư, hợp tác lâu dài tại Việt Nam.
Thứ tư là khơi thông nguồn vốn và các quỹ đầu tư quốc tế cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bộ trưởng cho rằng cần đẩy mạnh thu hút các quỹ đầu tư công nghệ đến hoạt động tại Việt Nam, tạo nguồn lực cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ cao như công nghệ sinh học, vật liệu mới và công nghệ lượng tử.
Cuối cùng là ưu tiên thu hút nhân tài khoa học và công nghệ trên phạm vi toàn cầu. Bộ trưởng đề xuất đổi mới mạnh mẽ cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học theo hướng Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, trao quyền chủ động cho các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.


Nếu ví ngoại giao khoa học, công nghệ là “cây cầu” thì doanh nghiệp phải là một trong những lực lượng đi qua cây cầu ấy để bước vào thị trường toàn cầu. Quyết định số 982/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra những mục tiêu rất cụ thể. Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường quốc tế; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm; có 5 doanh nghiệp đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài tối thiểu 1 tỷ USD/năm.
Mục tiêu này không phải bắt đầu từ con số 0. Năm 2023, Tập đoàn FPT đã cán mốc 1 tỷ USD doanh thu dịch vụ công nghệ thông tin từ thị trường nước ngoài, trở thành doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đầu tiên vượt qua cột mốc mang tính lịch sử này. Theo ông Phạm Minh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc FPT, Tổng Giám đốc FPT Software, khi Việt Nam có thêm nhiều doanh nghiệp đạt quy mô doanh thu tỷ USD trên thị trường thế giới, đó chính là cách tạo dựng thương hiệu công nghệ số cho Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.

Đây là một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy chính sách. Bởi làm chủ công nghệ không chỉ có nghĩa là tự nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Công nghệ phải trở thành sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp và giá trị kinh tế. Nếu không có doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh quốc tế, những kết quả nghiên cứu rất khó chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế. Ngược lại, doanh nghiệp vươn ra toàn cầu sẽ tạo ra thị trường, nguồn vốn, dữ liệu, kinh nghiệm và nhu cầu nghiên cứu mới cho hệ sinh thái khoa học, công nghệ trong nước.
Vì thế, mục tiêu xây dựng doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu cần được nhìn như một bộ phận của chiến lược nâng cao sức mạnh quốc gia, chứ không chỉ là câu chuyện kinh doanh.
Điểm quan trọng hơn nữa là Quyết định 982 không đặt mục tiêu Việt Nam chỉ có thêm doanh nghiệp xuất khẩu công nghệ. Đề án hướng tới việc hình thành đội ngũ doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đến năm 2045, mục tiêu là Việt Nam trở thành một quốc gia công nghiệp công nghệ số phát triển, có ít nhất 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến và thương hiệu “Make in Viet Nam” được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Xa hơn, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ làm chủ công nghệ và thị trường mà còn hướng tới khả năng tham gia định hình xu hướng, tiêu chuẩn và hệ sinh thái số toàn cầu. Đây chính là bước chuyển từ tham gia cuộc chơi sang có tiếng nói trong việc định hình cuộc chơi.
Và để đạt tới vị trí đó, ngoại giao khoa học, công nghệ phải phối hợp chặt chẽ với ngoại giao kinh tế, ngoại giao đa phương, ngoại giao nhân dân và hoạt động của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Một doanh nghiệp Việt Nam muốn đưa sản phẩm AI sang một thị trường mới cần không chỉ công nghệ. Họ cần hiểu pháp luật, tiêu chuẩn, văn hóa kinh doanh, cơ chế bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ, mạng lưới đối tác và xu hướng chính sách của thị trường đó. Đó chính là không gian để ngoại giao chuyển từ “hỗ trợ” sang “đồng hành kiến tạo”.


Trong một thế giới biến động nhanh, lợi thế của quốc gia không chỉ nằm ở những gì đang có mà còn nằm ở khả năng nhận diện sớm những gì sẽ quyết định tương lai. Ngoại giao khoa học, công nghệ vì thế phải có năng lực dự báo.
Cơ quan ngoại giao Việt Nam ở các quốc gia có nền khoa học, công nghệ phát triển cần không chỉ theo dõi quan hệ chính trị hay thương mại, mà còn phải nhận diện những xu hướng công nghệ mới, những trung tâm nghiên cứu mới, những nhà khoa học hàng đầu, những quỹ đầu tư mới, những doanh nghiệp đang sở hữu công nghệ có khả năng thay đổi thị trường. Đồng thời, phải nhận diện cả những rủi ro mới: phụ thuộc công nghệ, đứt gãy chuỗi cung ứng, an ninh dữ liệu, khoảng cách nhân lực, tiêu chuẩn công nghệ và những rào cản mới đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bước ra thế giới.
Nếu ngoại giao truyền thống giúp Việt Nam hiểu thế giới và để thế giới hiểu Việt Nam, thì ngoại giao khoa học, công nghệ trong kỷ nguyên mới phải làm được thêm một việc: giúp Việt Nam cùng thế giới tạo ra tương lai.

Việt Nam đang đứng trước một thời điểm đặc biệt. Một mặt, cuộc cách mạng công nghệ mở ra cơ hội rút ngắn khoảng cách phát triển. Những quốc gia đi sau không nhất thiết phải lặp lại toàn bộ con đường mà các nước đi trước đã trải qua. Nếu lựa chọn đúng công nghệ chiến lược, tập trung đúng nguồn lực và kết nối được với các trung tâm tri thức hàng đầu thế giới, Việt Nam có thể tạo ra những bước phát triển nhanh.
Mặt khác, chính tốc độ của công nghệ cũng làm gia tăng nguy cơ tụt hậu. Nếu chậm chân trong AI, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học hay các công nghệ nền tảng khác, khoảng cách với nhóm quốc gia dẫn đầu có thể không còn được đo bằng nhiều thập niên mà bằng tốc độ của từng chu kỳ công nghệ.
Vì vậy, vấn đề không phải là Việt Nam có hội nhập hay không. Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng. Vấn đề quyết định là hội nhập với năng lực nào và để tạo ra năng lực gì.
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt yêu cầu tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW nâng tầm hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 06-NQ/TW tiếp tục gắn đường lối đối ngoại với yêu cầu phát triển đất nước. Cùng với đó, Quyết định 21/2026/QĐ-TTg xác định các công nghệ chiến lược, còn Quyết định 982/QĐ-TTg đặt mục tiêu xây dựng lực lượng doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu.
Những chính sách đó đang tạo thành một mạch liên kết: đối ngoại mở không gian - khoa học, công nghệ tạo năng lực - doanh nghiệp chuyển hóa thành giá trị - nguồn nhân lực bảo đảm sức bền - và năng lực nội sinh nâng tầm vị thế quốc gia.
Từ thích ứng với những luật chơi công nghệ do thế giới tạo ra, Việt Nam phải từng bước có tiếng nói trong việc xây dựng những luật chơi ấy. Đó không phải một bước chuyển dễ dàng. Nhưng trong kỷ nguyên mà công nghệ đang định hình lại tương quan sức mạnh giữa các quốc gia, đây là bước chuyển không thể trì hoãn.
Ngoại giao khoa học, công nghệ, vì thế, không chỉ là ngoại giao để có thêm những mối quan hệ. Đó phải là ngoại giao để tạo ra năng lực. Sâu xa hơn, là ngoại giao để Việt Nam đủ năng lực tự quyết định vị trí của mình trong tương lai.


Tác giả: Đặng Khanh, Lê Hoàng, Hoàng Phạm, Hùng Cường, Hoài Lam
Trình bày: CTV Quốc Phòng
Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s