VETC muốn thu phí dịch vụ: Soi 3 hợp đồng, có hay không phí chồng phí?
VOV.VN - VETC cho biết phí quản lý ví dự kiến được dùng để duy trì hệ thống, kết nối ngân hàng và đối soát giao dịch. Nhưng một số công việc tương tự cũng xuất hiện trong hệ thống ETC vốn đã có cơ chế thanh toán từ doanh thu qua trạm. Muốn biết có chồng lấn chi phí hay không, phải đặt ba nhóm hợp đồng cạnh nhau.
Ba hợp đồng có đồng nghĩa ba lần thu?
Ngày 20/8, VETC thông báo dừng triển khai phí dịch vụ ví điện tử. Tuy nhiên, nhiều chủ phương tiện vẫn băn khoăn liệu khoản thu này có quay trở lại dưới một tên gọi khác. Quan trọng hơn, quyết định dừng thu chưa trả lời được câu hỏi cốt lõi: những chi phí VETC viện dẫn để hình thành khoản phí mới đã được thanh toán trong hợp đồng BOO và các hợp đồng dịch vụ thu hay chưa?
Rà soát hoạt động thu phí không dừng cho thấy một phương tiện có thể liên quan đến ba quan hệ hợp đồng. Thứ nhất là Hợp đồng BOO giữa cơ quan nhà nước với liên danh Tasco – VETC và doanh nghiệp dự án VETC. Thứ hai là hợp đồng dịch vụ thu giữa VETC với chủ đầu tư BOT hoặc đơn vị quản lý thu. Thứ ba là hợp đồng mở và sử dụng ví điện tử giữa VETC với khách hàng. Cần nói rõ: hợp đồng ví đã tồn tại; điều VETC vừa dừng là chính sách thu phí mới, không phải việc triển khai hợp đồng ví.
Ba hợp đồng này có mục đích pháp lý khác nhau nên sự tồn tại của chúng chưa phải bằng chứng về việc thu trùng. Hợp đồng BOO xác lập cơ chế đầu tư, vận hành và hoàn vốn dự án; hợp đồng dịch vụ thu xác định công việc, chi phí giữa VETC với đơn vị quản lý thu; còn ví điện tử là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. VETC đã được Ngân hàng Nhà nước cấp phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có ví điện tử.
Dòng tiền cũng không hoàn toàn tách thành ba dòng độc lập. Chủ xe trả tiền sử dụng đường; từ doanh thu đó, đơn vị cung cấp ETC được hưởng chi phí dịch vụ theo hợp đồng. Khoản phí quản lý ví là dòng tiền thứ hai từng được dự kiến thu trực tiếp từ khách hàng nhưng chưa phát sinh. Điểm cần kiểm tra không phải số lượng hợp đồng, mà là phạm vi công việc và chi phí giữa các hợp đồng có chồng lấn hay không?
VETC đã được thanh toán từ doanh thu qua trạm
Dự án thu phí tự động không dừng giai đoạn 1 được triển khai theo Hợp đồng số 09/HĐ.BOO-BGTVT ký ngày 13/7/2016. Theo Kết luận thanh tra số 682/KL-TTr của Thanh tra Bộ Giao thông Vận tải (cũ) dự án có tổng mức đầu tư sau điều chỉnh 1.905 tỷ đồng, phạm vi 50 trạm, thời gian hoàn vốn dự kiến 20 năm và đã ký thêm 5 phụ lục hợp đồng.
Cơ chế chi trả cho nhà cung cấp ETC hiện được quy định rõ tại Nghị định 119/2024/NĐ-CP. Điều 17 quy định sau khi đối soát, nhà cung cấp chuyển doanh thu thu tiền sử dụng đường bộ cho đơn vị quản lý thu sau khi trừ chi phí tổ chức, quản lý, giám sát. Điều 19 xác định khoản chi này bao gồm chi phí dành cho nhà cung cấp dịch vụ và được xác định trong hợp đồng dịch vụ thu.
Như vậy, VETC không vận hành hệ thống ETC mà không có nguồn chi trả. Trong số tiền thu được qua trạm đã có một phần được phân bổ cho hoạt động tổ chức, quản lý và giám sát thu phí. Điều chưa được công khai đầy đủ là tỷ lệ VETC đang được hưởng tại từng nhóm trạm và danh mục công việc cụ thể đã được thanh toán.
Đây không phải câu hỏi mới. Năm 2019, VETC cho biết mới có 11 trong số 44 trạm ký được phụ lục hoặc hợp đồng dịch vụ; nhiều nhà đầu tư BOT chưa đồng ý mức trích, chờ ý kiến ngân hàng tài trợ hoặc tiếp tục đàm phán. Điều đó cho thấy chi phí ETC đã được thương lượng và tranh luận giữa VETC với các chủ trạm từ nhiều năm trước.
Đáng chú ý, Kết luận thanh tra năm 2024 còn yêu cầu rà soát, xem xét giảm trừ 159,72 tỷ đồng đối với phần giá trị VETC không thực hiện và tiếp tục rà soát khoảng 260,6 tỷ đồng khối lượng chưa thực hiện so với hợp đồng BOO. Các con số này không chứng minh có việc thu trùng phí ví, nhưng cho thấy ngay trong dự án BOO vẫn còn những hạng mục lớn phải đối chiếu, xác định lại trước khi quyết toán.
Nếu là hai dịch vụ độc lập, phải chứng minh bằng hạch toán
Luật sư Trần Tuấn Anh, Đoàn Luật sư TP Hà Nội, nhận định các số liệu lịch sử không thể dùng để xác định hiện nay VETC đang được hưởng bao nhiêu tiền. Tuy nhiên, chúng cho thấy chi phí đầu tư và vận hành ETC đã được đàm phán, đưa vào hợp đồng và thanh toán từ doanh thu qua trạm trong nhiều năm. “Nếu hợp đồng hiện hành đã thanh toán cho các công việc như quản lý tài khoản giao thông, xử lý giao dịch, duy trì trung tâm dữ liệu, đối soát, xuất hóa đơn và giải quyết khiếu nại, thì việc tiếp tục lấy chính những đầu việc đó làm căn cứ hình thành phí quản lý ví có nguy cơ dẫn đến tính trùng chi phí. Nếu đây là hai nhóm dịch vụ độc lập, VETC cần chứng minh bằng hợp đồng, cơ cấu chi phí và nguyên tắc hạch toán cụ thể, thay vì chỉ liệt kê tên các khoản chi”, luật sư Trần Tuấn Anh phân tích.
Theo công bố tài chính năm 2025, VETC lãi sau thuế khoảng 136,3 tỷ đồng, gấp gần 6 lần năm trước; tổng tài sản đạt 3.223 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu hơn 219 tỷ đồng nhưng vẫn còn lỗ lũy kế trên 468 tỷ đồng. Những con số này không quyết định khoản phí đúng hay sai, song cho thấy quy mô tài chính của doanh nghiệp đủ lớn để việc hình thành một khoản thu mới phải được giải trình tương xứng.
Phí tài khoản không phải thông lệ duy nhất
Mô hình quốc tế cho thấy không có một công thức chung. AutoPASS của Na Uy do cơ quan đường bộ quốc gia sở hữu và vận hành hệ thống lõi. Tại Đức, Toll Collect cung cấp miễn phí thiết bị OBU cho xe tải, dù người dùng phải trả chi phí lắp đặt. Thụy Sĩ áp dụng cùng mức 40 CHF cho tem cao tốc giấy và tem điện tử. Bang Maryland của Mỹ cung cấp miễn phí thiết bị E-ZPass và không thu phí tài khoản hằng tháng đối với người cư trú trong bang, nhưng vẫn áp dụng phí với một số tài khoản ngoài bang.
Những mô hình này không chứng minh VETC bắt buộc phải cung cấp ví miễn phí. Chúng chỉ cho thấy khi một hệ thống thu phí được thương mại hóa, cơ cấu chi phí, đơn vị trả tiền và quyền lựa chọn phương thức thanh toán phải được công khai rõ ràng.
Cần đặt ba hợp đồng lên để cùng kiểm tra
Để trả lời dứt điểm có hay không việc chồng lấn chi phí, cơ quan quản lý cần kiểm tra ít nhất sáu nhóm tài liệu: Hợp đồng 09/HĐ.BOO-BGTVT và 5 phụ lục; phương án tài chính sau điều chỉnh; hợp đồng dịch vụ thu với từng nhóm trạm; tỷ lệ doanh thu VETC được trích hưởng; danh mục công việc đã được thanh toán; hồ sơ xây dựng mức phí 6.600 đồng cùng nguyên tắc phân bổ chi phí giữa hoạt động ETC và ví điện tử. Cũng cần làm rõ các phiên bản điều khoản sử dụng ví, thời điểm khách hàng chấp thuận, số lượng ví thực tế thuộc diện thu phí và những phương thức thanh toán thay thế nếu khách hàng không sử dụng ví VETC.
Điều 25 Nghị định 119/2024/NĐ-CP cho phép cơ quan có thẩm quyền yêu cầu nhà cung cấp cung cấp thông tin giao dịch; Điều 29 đặt ra trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động thanh toán điện tử giao thông, bảo đảm chính xác, khách quan và minh bạch. Vì vậy, cơ quan quản lý giao thông và Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp kiểm tra theo chức năng, thay vì để doanh nghiệp tự giải thích bằng những khái niệm chi phí chung chung.
VETC dừng thu 6.600 đồng mới chỉ khép lại một khoản phí chưa kịp phát sinh. Câu hỏi cũ vẫn còn nguyên: doanh nghiệp đang được thanh toán bao nhiêu để vận hành hệ thống ETC và những công việc nào đã nằm trong khoản tiền đó? Khi ba nhóm hợp đồng chưa được đối chiếu, chưa thể kết luận VETC thu trùng; nhưng cũng không thể yêu cầu hàng triệu chủ xe chấp nhận một khoản phí mới chỉ bằng lời giải thích rằng hệ thống cần tiền để vận hành.