
Mới đây, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kĩ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/7/2026, áp dụng đối với đối tượng tuyển sinh từ năm 2025 trở đi với mức hỗ trợ từ từ 3,7–5,5 triệu đồng/tháng đối với sinh viên đại học, thời điểm cấp học bổng được tính từ ngày 1/9/2026.
Nghị định được ban hành nhằm triển khai chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và các ngành có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo PGS.TS Nguyễn Phú Khánh - Phó Tổng Giám đốc ĐH Phenikaa, để hiện thực hóa các mục tiêu về phát triển khoa học, công nghệ mà Đảng, Chính phủ đã đề ra, cần xây dựng cơ chế đột phá, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và đẩy mạnh hướng nghiệp sớm từ bậc phổ thông đang trở thành những yêu cầu cấp bách.

Phóng viên: Thưa ông, tại các cuộc họp gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã nhiều lần khẳng định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là con đường sống còn, quyết định năng lực cạnh tranh cũng như sự tự chủ của đất nước. Ông đánh giá như thế nào về quan điểm này trong bối cảnh hiện nay?
PGS.TS Nguyễn Phú Khánh: Tôi cho rằng đây là những định hướng, chính sách thực sự rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh hiện nay. Thực tế nhìn lại chặng đường mấy chục năm phát triển vừa qua, Việt Nam đã thu hút được nhiều tập đoàn lớn đến đặt nhà máy và trung tâm nghiên cứu. Đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang từng bước phát triển vững chắc.

Chỉ có công nghệ mới thúc đẩy được sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Hiện nay, các tập đoàn, doanh nghiệp và các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu quay lại tập trung nghiên cứu, phát triển các lĩnh vực liên quan đến công nghệ lõi. Bởi nếu không có công nghệ lõi, chúng ta sẽ không thể hình thành được các sản phẩm mang tính đặc thù hay có tính năng cao mang thương hiệu Việt Nam. Thế nên, việc đầu tư vào công nghệ lõi ở thời điểm này là hoàn toàn đúng đắn.
Mặt khác, sự phát triển của một ngành công nghệ then chốt sẽ làm nền tảng hỗ trợ cho các ngành khác cùng bứt phá. Ví dụ điển hình là việc Chính phủ tập trung đẩy mạnh lĩnh vực công nghệ thông tin trong vòng 10 - 15 năm qua đã hỗ trợ rất lớn cho công cuộc chuyển đổi số hiện nay. Từ đó, chúng ta tạo ra được các nền tảng về dữ liệu, khoa học dữ liệu và khai thác chúng một cách hiệu quả. Khi đẩy mạnh công nghệ về chuyển đổi số và khoa học dữ liệu, đó sẽ là nền tảng phát triển chung cho mọi ngành, từ kỹ thuật cho đến các ngành công nghệ dịch vụ. Đây thực sự là một trọng tâm mà chúng ta cần dồn lực trong thời gian tới.
Phóng viên: Mới đây, Chính phủ đã ban hành chính sách cấp học bổng cho người theo học các ngành khoa học cơ bản, kĩ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, ông nhìn nhận thế nào về tầm nhìn của chính sách này?
PGS.TS Nguyễn Phú Khánh: Chính sách này đã thể hiện rõ tầm nhìn và mối quan tâm sâu sắc của Đảng, Chính phủ đối với các ngành khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học cơ bản. Hiện nay, chúng ta thấy AI và các lĩnh vực công nghệ 4.0, sau này là 5.0, đã thay đổi rất nhiều tư duy làm việc cũng như cách thức phát triển các ngành kỹ thuật và kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, có một điều đặc biệt là AI không tự nhiên sinh ra. Để tạo ra được AI, bắt buộc phải dựa trên nền tảng của các ngành khoa học cơ bản như hình học, đại số, toán học, vật lý hay sinh học. Rõ ràng, muốn phát triển AI thì phải nắm bắt được các công nghệ cơ bản đó. Bên cạnh việc phát triển các ngành công nghệ ứng dụng để tạo ra sản phẩm ngay lập tức, chúng ta bắt buộc phải đầu tư dài hạn. Và khoa học cơ bản chính là nền móng cho sự phát triển dài hạn đó. Hầu hết các phát minh lớn trên thế giới đều có nguồn gốc từ nghiên cứu cơ bản. Đây là những nghiên cứu nền tảng cốt lõi mà AI không thể thay thế được.

Khi Chính phủ đưa ra chính sách hỗ trợ để sinh viên yên tâm lựa chọn ngành khoa học cơ bản, điều đó đã tạo ra một động lực lớn, truyền cảm hứng cho các trường đại học và cơ sở giáo dục tận dụng cơ hội phát triển ngành học này. Nghiên cứu cơ bản đòi hỏi sự đầu tư lâu dài, bài bản, mang tính chiến lược và không thể sinh ra lợi nhuận hay nguồn thu trong ngắn hạn. Do đó, nếu nhìn thấy được nguồn lực hỗ trợ kinh tế từ Chính phủ về học phí, cùng với hệ sinh thái từ các nhà trường, sinh viên sẽ yên tâm theo đuổi đam mê nghiên cứu của mình.

Phóng viên: Ngoài các giải pháp về học bổng, theo ông chúng ta cần thêm những cơ chế đột phá nào để tạo ra cú hích cho khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ?
PGS.TS Nguyễn Phú Khánh: Đi liền với phát triển công nghệ luôn là rủi ro. Nghị quyết 57 ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị cũng đã đề cập đến việc thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và lần đầu tiên đưa ra vấn đề chấp nhận rủi ro trong khoa học. Muốn tìm ra công nghệ lõi, công nghệ mới hay trí tuệ nhân tạo thì bắt buộc phải nghiên cứu, mà đã nghiên cứu đỉnh cao thì chắc chắn có tỷ lệ thất bại. Tôi nghĩ Nhà nước cần thúc đẩy hơn nữa chính sách hỗ trợ nghiên cứu và chấp nhận một tỷ lệ rủi ro mạo hiểm nhất định. Nếu các nhà khoa học, chuyên gia hay kỹ sư tại doanh nghiệp được bảo vệ và tiếp sức trước những rủi ro mạo hiểm, họ mới dám dấn thân. Không thể đòi hỏi nghiên cứu 10 sản phẩm thì cả 10 đều thành công ngay được. Nếu cơ chế bắt họ phải đền bù hoặc bồi hoàn chi phí khi thất bại, vô hình trung sẽ triệt tiêu động lực của những người dám làm điều mới.

Thứ hai là câu chuyện nguồn vốn. Bên cạnh các quỹ nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng hay các chương trình trọng điểm quốc gia, Chính phủ nên cân nhắc thiết lập các quỹ đầu tư rủi ro mạo hiểm từ ngân sách nhà nước, thay vì chỉ phụ thuộc vào tư nhân hay các tổ chức quốc tế như hiện nay. Quỹ này cần mở rộng đối tượng đầu tư, không chỉ bó hẹp trong các đề tài nghiên cứu của đại học mà có thể rót vốn cho cả các nhà khoa học trẻ, những người chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng sở hữu ý tưởng đột phá.
Thứ ba là cơ chế thử nghiệm công nghệ mới. Chính phủ cần phối hợp với các thành phố lớn để xây dựng cơ chế thử nghiệm Sandbox – tức là tạo ra các khu vực đặc thù được kiểm soát và có hệ số an toàn cao để kiểm thử, hoàn thiện và tối ưu hóa các sản phẩm công nghệ mới trước khi thương mại hóa.
Cuối cùng là tối ưu hóa nguồn lực thông qua hạ tầng dữ liệu dùng chung. Các công nghệ mới hiện nay đều dựa trên Big Data và IoT. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nguồn (spinoff) hay startup công nghệ không thể đủ chi phí đầu tư các hệ thống phần cứng, phần mềm và trung tâm xử lý dữ liệu đắt đỏ.

Phóng viên: Đây cũng chính là những giải pháp căn cơ để chúng ta có thể hiện thực hóa mục tiêu tạo ra các sản phẩm công nghệ "Made in Vietnam", thưa ông?
PGS.TS Nguyễn Phú Khánh: Vâng, đúng vậy. Sau một thời gian dài chủ yếu làm gia công hoặc lắp ráp các thiết bị điện tử, thiết bị công nghệ cao, hiện nay người Việt Nam đã bắt đầu làm chủ được một số công nghệ lõi. Nếu có các cơ chế đột phá như tôi vừa chia sẻ, chúng ta mới thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình này. Làm chủ được công nghệ lõi sẽ giúp chúng ta bớt phụ thuộc vào nguồn đầu tư và chuyên gia nước ngoài, đồng thời đón đầu được các xu hướng công nghệ mới để thiết kế ra những sản phẩm phù hợp nhất với địa hình, con người và điều kiện thực tế của Việt Nam.


Phóng viên: Từ góc độ các trường đại học, ông có đề xuất gì về mặt chính sách để thúc đẩy phát triển khối ngành khoa học cơ bản, kĩ thuật then chốt và công nghệ chiến lược trong các trường đại học?
PGS.TS Nguyễn Phú Khánh: Hiện nay các trường đã nhận được sự hỗ trợ từ quỹ hay các chương trình nghiên cứu trọng điểm, nhưng tỷ trọng đầu tư của Nhà nước cho các đề tài nghiên cứu cơ bản và công nghệ cao cần phải được nâng cao hơn nữa, ưu tiên cho các đơn vị làm tốt và có sản phẩm tiềm năng. Bên cạnh đó, các chính sách học bổng, miễn học phí nên đi kèm với cơ chế cam kết làm việc đúng ngành nghề sau khi tốt nghiệp, dù là làm việc cho khối công hay khối tư nhân để tránh lãng phí nguồn lực đào tạo. Nhà nước cũng cần tập trung nguồn vốn đầu tư trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm trọng điểm đi theo mục tiêu chiến lược cụ thể.
Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có cơ chế khuyến khích, động viên và khen thưởng các trường đại học, cao đẳng chủ động đồng hành hướng nghiệp cùng các trường phổ thông. Hướng nghiệp sớm không nên chỉ dừng lại ở mong muốn tuyển sinh của riêng trường đại học, mà phải là chiến lược của Chính phủ nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, đam mê và cam kết với ngành nghề, tránh tình trạng chọn nhầm ngành gây lãng phí lớn cho xã hội.

Với Khối ngành khoa học cơ bản và STEM đòi hỏi người học phải có tư duy, sự kiên trì và nỗ lực rất lớn. Nếu đợi đến lớp 11, lớp 12 mới định hướng thì thực sự khá muộn, học sinh sẽ có xu hướng chọn những ngành gần gũi, dễ đạt được hơn. Thiên hướng của trẻ thường bộc lộ rất sớm từ mẫu giáo hay tiểu học. Dù ở lứa tuổi này lựa chọn của các em còn thay đổi, nhưng nếu có định hướng dài hạn, các em sẽ nuôi dưỡng được đam mê. Học sinh cần được kết nối để thấy rằng những kiến thức toán, lý, hóa các em đang học ở trường phổ thông có giá trị ứng dụng thực tế rất lớn tại bậc đại học và doanh nghiệp sau này.
Để làm được điều đó, các trường đại học cần chia sẻ cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và đồng hành xây dựng các câu lạc bộ STEM, câu lạc bộ Robot, AI tại trường phổ thông. Tại Đại học Phenikaa, chúng tôi đã từng cử các sinh viên đang sinh hoạt tại câu lạc bộ STEM, Robot về lại chính quê hương của các bạn ở tỉnh Ninh Bình (Nam Định cũ), Thanh Hóa để truyền cảm hứng và hỗ trợ học sinh các tỉnh này.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần đồng hành ngay từ sớm thông qua việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, tạo điều kiện cho học sinh từ 10 tuổi trở lên đến tham quan nhà máy, phòng thí nghiệm, trung tâm đổi mới sáng tạo. Quá trình tiếp xúc liên tục từ sớm như vậy sẽ giúp tăng tỷ lệ học sinh đam mê và lựa chọn khối ngành khoa học kỹ thuật một cách chín chắn khi bước vào đại học.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông!
Tác giả: Nguyễn Trang - Trình bày: Kiều Anh
Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s