

“Phải làm sao để từng xã, phường, thôn, xóm không có tội phạm, để người dân đi ngủ, đi vắng không phải khóa cửa” – vấn đề được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (khi đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an) đặt ra trong cuộc họp với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương ngày 8/8/2023.
Đến năm 2026, yêu cầu ấy tiếp tục được cụ thể hóa ở tầm chiến lược trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Chiến lược An ninh quốc gia. Nghị quyết đặt mục tiêu: Phấn đấu giảm mạnh tội phạm, kiềm chế, kéo giảm các tai nạn đặc biệt nghiêm trọng, tiến tới xây dựng xã hội không có tội phạm, không có tai nạn, tệ nạn, không có tiêu cực, thực sự văn minh, hạnh phúc.
Như vậy, bảo đảm an ninh, trật tự không chỉ được đặt trong phạm vi đấu tranh, xử lý những vụ việc đã xảy ra, mà hướng tới kiểm soát các nguy cơ từ sớm, xây dựng môi trường sống an toàn và lành mạnh trên nhiều phương diện.

Nhìn lại năm 2025, công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn quốc đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua các số liệu thống kê cụ thể của Bộ Công an.

Về trật tự xã hội, so với năm 2024, số vụ việc đã giảm mạnh 16.341 vụ, tương ứng mức giảm 25,39%. Lực lượng chức năng đã điều tra, khám phá 37.382 vụ, giảm 11.334 vụ, tương ứng giảm 23,27% so với năm trước. Tổng số đối tượng bị bắt giữ và xử lý là 76.328 đối tượng, giảm 16.915 đối tượng, tương ứng giảm 18,14%. Tỷ lệ khám phá án đạt 77,86%, tăng 2,16% so với năm 2024. Công tác triệt phá các tổ chức tội phạm ghi nhận kết quả rõ rệt khi lực lượng công an triệt phá 39 băng nhóm, giảm 30 băng nhóm, tương ứng giảm 43,48% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trên các mặt trận đấu tranh chuyên sâu, tình hình vi phạm pháp luật cũng ghi nhận xu hướng giảm sâu. Tội phạm về trật tự quản lý kinh tế giảm 20% số vụ so với năm 2024. Tội phạm về môi trường và an toàn thực phẩm xảy ra 488 vụ, giảm 135 vụ, tương ứng giảm 21,67%. Tội phạm về ma túy xảy ra 25.753 vụ, giảm 4.175 vụ, tương ứng giảm 13,95%. Trong công tác truy nã, toàn quốc đã bắt, vận động đầu thú và thanh loại 2.641 đối tượng, giảm 33,27% so với năm 2024.
Những kết quả trên thể hiện bước tiến quan trọng trong công tác quản lý địa bàn, chuyển dần từ trạng thái bị động giải quyết hậu quả sang chủ động kiểm soát và triệt xóa các nguy cơ phát sinh tội phạm.
Tuy nhiên, đích đến được đặt ra trong Chiến lược An ninh quốc gia không chỉ là xử lý tốt hơn những vụ việc đã xảy ra, mà quan trọng hơn là chủ động phòng ngừa, nhận diện và kiểm soát nguy cơ từ sớm, để tội phạm, tai nạn, tệ nạn và tiêu cực được kéo giảm ngay từ những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm.

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, mục tiêu tiến tới xây dựng xã hội “không có tội phạm, không có tai nạn, không có tiêu cực” trước hết mang ý nghĩa định hướng, thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội an toàn, kỷ cương, văn minh, nơi con người được sống, làm việc và phát triển trong môi trường lành mạnh, hạnh phúc.
Điều này cần được nhìn nhận là một mục tiêu chiến lược lâu dài, không phải một trạng thái tuyệt đối có thể đạt được trong thời gian ngắn và cần được hiểu là quá trình phấn đấu để tội phạm, tai nạn, tệ nạn và tiêu cực được kéo giảm xuống mức thấp nhất có thể, đồng thời chủ động loại bỏ những điều kiện làm phát sinh các vấn đề này.
Cách tiếp cận đó đòi hỏi chuyển mạnh từ xử lý sang phòng ngừa, từ “chống tội phạm” sang “không để tội phạm có điều kiện phát sinh”. Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, trước hết cần chủ động nhận diện các nguy cơ xã hội, những địa bàn, lĩnh vực và nhóm đối tượng dễ phát sinh vi phạm để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
Muốn biến mục tiêu “không có tội phạm, không có tai nạn, tệ nạn, không có tiêu cực” thành những kết quả cụ thể, cần giải quyết đồng thời nhiều vấn đề, trong đó có việc xử lý những nguyên nhân sâu xa từ kinh tế, xã hội đến văn hóa, giáo dục và quản lý nhà nước.

Phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; nâng cao chất lượng giáo dục, văn hóa, đạo đức, việc làm và an sinh xã hội; xây dựng môi trường sống lành mạnh và ý thức thượng tôn pháp luật. Khi những điều kiện dễ làm phát sinh tội phạm và các vấn đề xã hội được kiểm soát tốt hơn, công tác phòng ngừa mới có thể chuyển từ xử lý tình huống sang chủ động quản trị rủi ro.
Cùng với đó là yêu cầu ứng dụng mạnh khoa học, công nghệ và dữ liệu. Hệ thống cảnh báo sớm, quản trị rủi ro, giám sát thông minh nếu được khai thác hiệu quả sẽ giúp các cơ quan chức năng nhận diện nguy cơ sớm hơn, phản ứng nhanh hơn và có cơ sở để đưa ra những biện pháp phòng ngừa phù hợp.
“Không có tội phạm, không có tai nạn, không có tiêu cực” phải được biến thành một hướng phấn đấu có thể đo lường bằng những bước tiến cụ thể: tội phạm giảm, tai nạn giảm, tiêu cực giảm, niềm tin xã hội tăng. Đó mới là cách biến một khát vọng rất cao thành một chương trình hành động thực tế, bền bỉ và khả thi”, Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu khẳng định.



Để duy trì thành quả và tiến gần hơn đến mục tiêu chiến lược, phòng ngừa không thể chỉ là nhiệm vụ riêng của lực lượng chức năng hay các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đây phải là công việc thường xuyên của cả hệ thống chính trị, của cơ quan, tổ chức, gia đình và mỗi người dân.
Theo Đại tá Đỗ Phú Thọ, Tổng Biên tập Báo Cựu Chiến binh Việt Nam, trước hết cần tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Sự liêm chính, trách nhiệm và gương mẫu của cán bộ không chỉ có ý nghĩa trong phòng, chống tiêu cực mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị và pháp luật.
Cùng với đó là hoàn thiện thể chế và hệ thống pháp luật, rà soát những quy định còn chồng chéo, bất cập, những khoảng trống có thể bị lợi dụng để phát sinh tham nhũng, tiêu cực và vi phạm pháp luật. Mọi hành vi vi phạm cần được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, minh bạch hóa quy trình để hạn chế cơ hội phát sinh tiêu cực.
Một yêu cầu khác được Đại tá Đỗ Phú Thọ nhấn mạnh là phát huy sức mạnh của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và nhân dân cần được phát huy tốt hơn vai trò giám sát, phản biện xã hội; các phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và những mô hình khu dân cư an toàn cần tiếp tục được củng cố.


Mục tiêu kéo giảm, tiến tới “không có tội phạm” không thể chỉ được đặt ra trong các cơ quan thực thi pháp luật, mà phải trở thành một phần của đời sống cộng đồng. Mỗi gia đình, khu dân cư, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp đều có thể góp phần nhận diện và ngăn ngừa những nguy cơ ngay từ khi mới xuất hiện. Những người dũng cảm tố giác tội phạm, đấu tranh với tiêu cực cũng cần được bảo vệ và có cơ chế động viên, khen thưởng phù hợp.
Đặc biệt, cần giải quyết từ gốc những nguyên nhân kinh tế - xã hội làm phát sinh tội phạm và tệ nạn. Các cấp, ngành và địa phương cần tiếp tục thực hiện hiệu quả các giải pháp giảm nghèo bền vững, tạo việc làm ổn định, nâng cao dân trí; đồng thời chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách và ý thức thượng tôn pháp luật từ gia đình, nhà trường đến toàn xã hội. Cùng với đó là xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, quản lý chặt những loại hình dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn, đồng thời tạo thêm các không gian văn hóa, thể thao và hoạt động cộng đồng lành mạnh, nhất là cho thanh thiếu niên.
Bên cạnh các giải pháp về kinh tế - xã hội, cần đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng thực thi pháp luật, khai thác hiệu quả dữ liệu dân cư, hệ thống camera giám sát an ninh, dữ liệu giao thông và các nền tảng công nghệ, qua đó nâng cao khả năng phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ về tội phạm, tai nạn.
Nghị quyết 22-NQ/TW đã mở ra tầm nhìn rộng hơn về một xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Đích đến cuối cùng của công tác bảo đảm an ninh, trật tự không chỉ là phá án, xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm, mà quan trọng hơn là để người dân thực sự cảm thấy an toàn, bình yên trong chính cuộc sống hằng ngày của mình.
Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s