


Chỉ 5 ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, lúc 11 giờ 30 phút ngày 7/9/1945, trên nền nhạc “Diệt phát xít”, lời xướng: “Đây là TNVN, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” vang lên. Một đất nước vừa giành lại độc lập sau hàng trăm năm thuộc địa, đó không đơn thuần là sự ra đời của một cơ quan báo chí. Có thể nói, đó còn là một sự xác lập chủ quyền bằng âm thanh: Từ đây, một Nhà nước Việt Nam độc lập có tiếng nói của mình để nói với nhân dân và với thế giới.

Những cán bộ kỹ thuật đầu tiên của Đài làm việc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Chưa có những phòng thu tiêu chuẩn, chưa có một dây chuyền phát thanh hoàn chỉnh. Thiết bị vô tuyến điện tại Bạch Mai được cải tiến để trở thành máy phát thanh sóng ngắn công suất từ khoảng 100 đến 500W. Phòng thu đơn sơ phải dùng chăn bông để hạn chế tiếng vọng, các buổi ca nhạc nhiều khi được biểu diễn trực tiếp, không qua biên tập. Từ micro, đường dây, nguồn điện đến máy phát đều đòi hỏi người làm kỹ thuật vừa vận hành, vừa sửa chữa, vừa tìm cách khắc phục những giới hạn của thiết bị. Trong hoàn cảnh ấy, một mối nối không tốt, một linh kiện hỏng hay sự cố nguồn điện cũng có thể khiến chương trình bị gián đoạn.

Bởi vậy, ngay từ buổi đầu, công nghệ đối với Đài TNVN chưa bao giờ chỉ là chuyện máy móc. Đó là điều kiện để một thông tin có thể đến được với người nghe, đến đúng lúc và trong những năm chiến tranh sau đó, còn là điều kiện để tiếng nói của một quốc gia có thể tiếp tục tồn tại trên làn sóng.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, Đài rời Hà Nội, cả con người và máy móc bước vào một cuộc trường chinh đặc biệt: Vừa di chuyển, vừa phát sóng. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, các bộ phận của Đài nhiều lần bí mật chuyển địa điểm qua chùa Trầm, Bó Lù - Ba Bể, Hát Môn và nhiều nơi khác. Tư liệu ghi lại 14 lần di chuyển, với những thiết bị phát thanh nặng nề, cồng kềnh dễ hỏng lại phải vượt đường rừng vô cùng khó khăn; đến địa điểm mới, cán bộ kỹ thuật lại dựng phòng máy, căng anten, xử lý nguồn điện, kiểm tra tần số, tổ chức đường truyền và sẵn sàng tháo dỡ khi địa điểm có nguy cơ bị lộ. “Vừa đi vừa phát sóng” khi ấy không chỉ là một phương thức kỹ thuật. Đó là một phương thức chiến đấu.
Đêm Giao thừa Tết Đinh Hợi 1947 tại chùa Trầm là một câu chuyện tiêu biểu: Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Đài đọc lời chúc Tết. Trong điều kiện phương tiện thu thanh vô cùng thiếu thốn, cán bộ kỹ thuật đã ứng biến, sử dụng loại đĩa có khả năng ghi âm trực tiếp với máy quay đĩa để ghi lại tiếng nói của Người, kịp phát cho đồng bào nghe vào sáng mùng 1 Tết. Một giải pháp kỹ thuật tưởng như nhỏ bé nhưng đã lưu giữ được một thanh âm quý giá của lịch sử.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến trên mặt trận thông tin bước sang một quy mô khác. Đối phương có ưu thế về không quân, phương tiện điện tử, khả năng gây nhiễu và đánh phá trực tiếp các cơ sở phát sóng của ta. Đài TNVN cùng hệ thống phát thanh cách mạng phải không ngừng phát triển công suất, tần số, mạng trạm, đường truyền và các phương án dự phòng. Các chương trình tiếng Việt và ngoại ngữ vượt giới tuyến, đến với đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế và cả binh lính phía bên kia chiến tuyến.

Năm 1967, Cục Kỹ thuật phát thanh được thành lập, góp phần nâng cao năng lực quản lý hệ thống phát xạ, sửa chữa và cải tiến thiết bị chuyên dùng trong điều kiện chiến tranh. Nhưng có lẽ phép thử khắc nghiệt nhất đối với khả năng bảo đảm làn sóng xảy ra trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972, đó là Bom B-52 đánh trúng Đài phát sóng Mễ Trì, khiến sóng trung chủ lực và nhiều sóng ngắn bị gián đoạn. Theo phương án đã chuẩn bị từ trước, đài dự phòng CK2 lập tức thay thế. Chỉ 9 phút sau, làn sóng chủ lực của Đài TNVN được nối lại. Chín phút ấy chứa đựng một bài học có giá trị vượt xa câu chuyện của một đài phát sóng.
Sức mạnh không nằm ở một chiếc máy phát dù công suất lớn đến đâu, mà ở một hệ thống có khả năng dự phòng, phân tán, thay thế và phục hồi khi một mắt xích bị phá hủy. Để có 9 phút ấy phải có nhiều năm chuẩn bị: Trạm dự phòng, tuyến tín hiệu, tần số, quy trình, diễn tập và quan trọng nhất là những con người biết phải làm gì trong thời khắc quyết định. Kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị đến hơn nửa thế kỷ sau. Chỉ khác rằng, nếu năm 1972 mục tiêu của bom đạn là nhà máy phát sóng và cột anten thì hôm nay một cuộc tấn công có thể nhằm vào trung tâm dữ liệu, đường truyền, phần mềm, tài khoản quản trị, kho nội dung hoặc thậm chí là niềm tin của công chúng.

Chiều 30/4/1975, khi đất nước đi đến thời khắc thống nhất, những giọng đọc lịch sử lại vang lên trên sóng. Đằng sau chương trình đặc biệt ấy vẫn là những người đã giữ máy, bảo vệ tần số, nối đường truyền và bảo đảm cho TNVN đi tới hàng triệu người nghe, trong đó có cả những binh lính đối phương, và vì thế họ đã buông súng đầu hàng, máu của hai bên chiến tuyến không tiếp tục đổ xuống.
Ba mươi năm sau khi chiến tranh khép lại, một bài toán mới bắt đầu: Đưa tiếng nói ấy đến gần hơn với mọi miền của một đất nước thống nhất.

Trong nhiều năm sau 1975, khi điện lưới, giao thông, viễn thông và các phương tiện truyền thông chưa phát triển đồng đều, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo, chiếc radio nhỏ bé là một trong những “cửa sổ” mở ra với người dân ở mọi miền đất nước. Qua sóng trung, sóng ngắn rồi FM, người dân nghe tin tức, dự báo thời tiết, hướng dẫn sản xuất, chương trình giáo dục, văn hóa, văn nghệ. Các chiến sĩ nơi biên cương, hải đảo nghe được nhịp sống quê nhà, những con tàu ngoài khơi xa nhận được thông tin thời tiết và cảnh báo thiên tai.
Đằng sau tiếng nói tưởng như rất đơn giản phát ra từ chiếc radio là cả một dây chuyền kỹ thuật phức tạp, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như địa lý, công suất, tần số, thiết kế anten, nguồn điện, tiếp đất, đường truyền, bảo dưỡng và tổ chức lực lượng vận hành.

Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghệ phát thanh thay đổi nhanh hơn. Năm 1990, chương trình “Âm nhạc - Tin tức” được phát trên FM 100 MHz với âm thanh stereo, mang đến chất lượng nghe tốt hơn và một phong cách phát thanh gần gũi hơn với nhu cầu của công chúng. Đến năm 1994, phát thanh trực tiếp theo phong cách hiện đại mở thêm một cánh cửa mới: người nghe không chỉ tiếp nhận chương trình mà từng bước có thể tham gia vào chương trình. Phát thanh từ chỗ “Đài nói - công chúng nghe” bắt đầu có tương tác, trở thành một dòng thông tin gần hơn với cuộc sống.
Bão Chanchu năm 2006 và những mất mát lớn đối với ngư dân trên biển tiếp tục đặt ra một câu hỏi rất cụ thể: Khi người dân ở cách đất liền hàng trăm, thậm chí hàng nghìn hải lý, thông tin thiết yếu có đến được với họ hay không? Các dự án phủ sóng Biển Đông sau đó được triển khai: Năm 2009, hệ thống tăng cường khả năng đưa thông tin tới những vùng biển xa, trong đó có Hoàng Sa, Trường Sa và vịnh Thái Lan; năm 2021, VOV tiếp tục xây dựng đài phát sóng khu vực Nam Trung Bộ nhằm tăng cường phủ sóng ra khu vực Trường Sa. Ở những nơi như vậy, công nghệ không còn là những thông số khô khan. Một bản tin dự báo đến sớm, một tín hiệu đủ rõ trong đêm biển động có thể góp phần bảo vệ tính mạng của ngư dân. Và mỗi làn sóng vươn ra biển mang theo sự hiện diện của đất nước.

Nếu trước đây một cuộc cách mạng diễn ra trên những cột anten và đài phát sóng thì một cuộc cách mạng khác lại diễn ra âm thầm trong phòng thu, tòa soạn và kho lưu trữ. Nhiều thế hệ người làm phát thanh từng quen với những cuộn băng từ, máy ghi âm cồng kềnh, dao cắt và băng dính. Muốn sửa một đoạn âm thanh phải tìm đúng vị trí trên băng rồi cắt, ghép bằng tay, những thao tác ấy tốn rất nhiều công sức, nhưng quan trọng hơn là việc sao chép nhiều lần còn làm giảm chất lượng âm thanh.

Khi âm thanh trở thành dữ liệu, người làm báo có thể thu, dựng trên máy tính; phóng viên ngoài hiện trường sử dụng những thiết bị ngày càng nhỏ gọn để gửi âm thanh, hình ảnh, video về tòa soạn, một nguồn tư liệu có thể được biên tập thành nhiều sản phẩm khác nhau. Nhưng có một giá trị khác của số hóa còn lớn hơn sự tiện lợi, đó là bảo tồn ký ức âm thanh quốc gia. Tại thời điểm năm 2025, kho lưu trữ của Đài có khoảng 30.000 giờ âm thanh với khoảng 80.000 đầu băng, trong đó có những giọng nói, bản tin, âm thanh chiến trường, lời kể nhân chứng, tác phẩm văn học - nghệ thuật, dân ca và nhiều tư liệu không thể tái tạo lần thứ hai. Những cuộn băng vật lý rồi sẽ lão hóa. Máy đọc của những thế hệ công nghệ cũ cũng dần trở nên khan hiếm. Vì thế, số hóa kho tư liệu là một cuộc chạy đua với thời gian.
Khi những âm thanh ấy được phục chế, chuyển thành dữ liệu, gắn siêu dữ liệu, phân loại và sao lưu đúng chuẩn, chúng không chỉ được “cất giữ” an toàn hơn mà còn có thể tìm kiếm, khai thác, kết nối và kể lại cho các thế hệ sau.Từ đây, tài sản quý giá của phát thanh không còn chỉ nằm trên những giá băng trong kho, mà nó trở thành tài sản dữ liệu

Internet và điện thoại thông minh đã tạo ra sự thay đổi còn sâu sắc hơn: Thay đổi vị thế của công chúng. Trong mô hình phát thanh truyền thống, thính giả phải mở radio đúng tần số, đúng giờ. Chương trình đi qua rồi phải chờ lần phát tiếp theo. Nhưng ngày nay, người nghe có thể nghe trực tiếp, nghe lại, tìm kiếm, dừng, tua, chia sẻ hay phản hồi. Một câu chuyện vốn chỉ tồn tại dưới dạng âm thanh có thể đồng thời trở thành bài viết, video, ảnh, đồ họa hay podcast. Với kiều bào ở nước ngoài, khoảng cách địa lý và chênh lệch múi giờ không còn là rào cản.

Tuy nhiên chuyển đổi số không đơn giản là lấy nguyên một chương trình phát thanh rồi đưa lên Internet. Nếu chỉ thay đổi phương thức phát mà quy trình sản xuất vẫn giữ nguyên thì mới là số hóa đầu ra. Chuyển đổi thực sự phải tổ chức lại cả chuỗi: Từ thu thập thông tin, tác nghiệp hiện trường, sản xuất, biên tập, quản trị tài sản số, lưu trữ, phân phối và đo lường phản hồi của công chúng. Một lần tác nghiệp, vì thế có thể tạo nguyên liệu cho nhiều sản phẩm. Một cuộc phỏng vấn tại hiện trường có thể xuất hiện trong bản tin phát thanh, trở thành bài báo điện tử, podcast, video ngắn hay đồ họa. Tư liệu sau đó được lưu trữ có hệ thống để tiếp tục tìm kiếm, khai thác và tái sử dụng.
Giá trị của chuyển đổi số không phải là có mặt trên càng nhiều nền tảng càng tốt, mà là tổ chức nội dung thông minh hơn, khai thác hiệu quả hơn và đưa đúng sản phẩm tới đúng nhóm công chúng.

Một nhận thức cũng cần được làm rõ: Phát triển nền tảng số không đồng nghĩa với từ bỏ phát thanh mặt đất. Internet có những ưu thế mà phát thanh truyền thống không có như: Tương tác, tìm kiếm, phân phối theo yêu cầu, khả năng cá nhân hóa và đo lường hành vi người dùng. Nhưng phát thanh quảng bá AM, FM, sóng ngắn lại có những đặc tính riêng của phương thức truyền một-tới-nhiều, khả năng phủ rộng và đặc biệt có giá trị trong những tình huống một số hạ tầng thông tin khác bị gián đoạn bởi thiên tai địch họa. Vì thế, bài toán tương lai không phải là “cũ hay mới”, “radio hay Internet”. Mà đó phải là một kiến trúc truyền thông trong đó mỗi loại hạ tầng được sử dụng đúng vào thế mạnh của mình, bổ sung và dự phòng cho nhau, như người trẻ có thể lần đầu gặp VOV qua một video ngắn hoặc podcast; người lớn tuổi vẫn có thói quen mở radio; ngư dân trên biển hay đồng bào ở vùng sâu, vùng xa lại cần tín hiệu quảng bá ổn định; kiều bào ở nước ngoài cần nội dung có thể nghe bất kỳ lúc nào; bạn bè quốc tế cần những sản phẩm đa ngôn ngữ, dễ tìm kiếm, dễ chia sẻ và đặc biệt hơn thông tin trên Internet có thể nghẽn mạng, tin giả, bị tấn công nhưng với hạ tầng truyền thống thì không. Như vậy càng có nhiều con đường đến với công chúng, thì yêu cầu đối với một cơ quan truyền thông quốc gia càng cao, nhưng tất cả những con đường ấy phải dẫn về cùng một chuẩn mực thông tin.

Nếu cuộc chuyển đổi từ analog sang số thay đổi phương thức sản xuất thì AI đang tạo ra một thay đổi mới ngay trong cách con người xử lý thông tin. AI có thể hỗ trợ phiên âm, nhận diện giọng nói, chuyển ngữ, tìm kiếm và phân loại kho tư liệu, hỗ trợ phục chế âm thanh, tổng hợp dữ liệu và tự động hóa những thao tác lặp lại. Nếu được sử dụng đúng, công nghệ giúp phóng viên, biên tập viên và kỹ thuật viên dành nhiều thời gian hơn cho những công việc mà AI không thể thay thế, đó là đi thực tế, tìm vấn đề, kiểm chứng thông tin, phân tích bối cảnh và sáng tạo cách kể.

Nhưng chính công nghệ ấy cũng làm việc giả mạo giọng nói, hình ảnh, video và sản xuất nội dung sai lệch trở nên dễ dàng hơn. Vì vậy, trong thời đại AI, nhiệm vụ của báo chí không chỉ là đưa thông tin thật nhanh mà còn phải giúp công chúng nhận biết đâu là thông tin đã được kiểm chứng, ai chịu trách nhiệm về nó và nguồn gốc của nội dung có thể được xác thực hay không. Ở đây, bài học “chín phút” của năm 1972 lại có một ý nghĩa mới. Ngày ấy, khi Mễ Trì bị đánh phá, câu trả lời là CK2, là tuyến dự phòng và những con người đã chuẩn bị trước cho tình huống xấu nhất. Hôm nay, một hệ thống truyền thông lớn cũng phải có khả năng dự phòng, nhưng phạm vi đã rộng hơn nhiều: Dự phòng đường truyền, trung tâm dữ liệu, kho nội dung, tài khoản quản trị, bản sao an toàn, nền tảng phân phối và cả quy trình ứng phó khi bị tấn công hay giả mạo. Nói cách khác, nếu trước đây phải bảo vệ làn sóng, thì hôm nay phải đồng thời bảo vệ cả làn sóng, dữ liệu, nền tảng và niềm tin. Đó cũng chính là một trong những thách thức lớn nhất đối với báo chí trong kỷ nguyên AI.

Từ máy phát vài trăm oát đến những hệ thống truyền dẫn hiện đại; từ băng từ đến dữ liệu; từ chiếc radio đến podcast, video và AI, thiết bị đã đổi thay qua rất nhiều thế hệ. Nhưng có một “mã nguồn” của TNVN không thể thay thế bằng thế hệ công nghệ nào, đó là con người. Nhà báo mang câu chuyện từ chiến trường, vùng bão lũ, biên giới, hải đảo trở về tòa soạn; Biên tập viên kiểm chứng và đặt thông tin vào đúng bối cảnh; Phát thanh viên truyền hơi ấm và cảm xúc qua giọng nói; Kỹ sư thiết kế, vận hành và bảo vệ hệ thống; Công nhân kỹ thuật trực máy giữa đêm... Không mắt xích nào có thể hoàn thành sứ mệnh ấy một mình.


Một phóng sự hay cần đường truyền để trở về đúng lúc; Một máy phát công suất lớn cần nội dung xứng đáng để truyền đi; Một nền tảng hiện đại cần những nhà báo hiểu công chúng; Một thuật toán càng mạnh càng cần con người xác lập những giới hạn về đạo đức, trách nhiệm và sự thật. Vì vậy, đầu tư công nghệ cuối cùng vẫn phải trở về với đầu tư cho con người: Một thế hệ nhà báo số có bản lĩnh chính trị, giỏi nghiệp vụ, hiểu dữ liệu, biết sản xuất đa phương tiện và sử dụng AI có trách nhiệm; Một đội ngũ kỹ thuật đủ sức làm chủ truyền dẫn IP, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, phát thanh số và an ninh mạng.
Tám mươi mốt năm trước, TNVN cất lên từ một căn phòng nhỏ trong điều kiện kỹ thuật còn hết sức sơ khai. Hôm nay, trước khi đến với công chúng, tiếng nói ấy có thể đi qua studio số, trung tâm dữ liệu, vệ tinh, cáp quang, cột anten, Internet và điện thoại thông minh. Nó không chỉ được nghe mà còn được đọc, được nhìn thấy, được tìm kiếm, chia sẻ và tiếp tục sống trong không gian số.

81 năm phát triển của Đài TNVN cho thấy một điều: Lịch sử công nghệ của VOV không phải là câu chuyện cái mới liên tục xóa bỏ cái cũ. Đó là hành trình mỗi thế hệ công nghệ mở thêm một con đường để thực hiện tốt hơn với cùng một sứ mệnh. Làn sóng mặt đất giúp tiếng nói lan xa và tạo thêm năng lực dự phòng. Nền tảng số đưa nội dung đến với công chúng theo nhu cầu. Dữ liệu giúp lưu giữ ký ức và hiểu người nghe tốt hơn. AI có thể nâng cao năng suất và mở rộng khả năng sáng tạo.


Nhưng cuối cùng, công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giúp thông tin đến đúng người, vào đúng lúc và tin cậy. Từ làn sóng giữa những năm tháng chiến tranh đến dòng dữ liệu của thời đại AI, TNVN hôm nay đã có nhiều con đường hơn để đến với nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Công nghệ rồi sẽ còn thay đổi rất nhanh. Có những thiết bị hôm nay được coi là hiện đại nhưng chỉ vài năm nữa có thể trở nên lạc hậu. Những nền tảng đang thịnh hành hôm nay rồi cũng có thể được thay bằng những phương thức khác mà chúng ta chưa hình dung hết. Nhưng có những giá trị không được phép lạc hậu: Đó là khả năng có mặt khi đất nước và nhân dân cần; Là nói đúng sự thật; Là giữ được bản sắc của TNVN; Và trên hết, là luôn luôn xứng đáng với niềm tin của công chúng.
Tiến sĩ Vũ Hải Quang, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam
Thực Hiện: Đồng Toàn

Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s