
Bảo đảm quyền con người là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng phát triển, hiệu quả quản trị và uy tín quốc gia. Những thành tựu đạt được thời gian qua không chỉ góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn khẳng định quyết tâm nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách phát triển.
Đó là khẳng định của PGS.TS Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam.

Thưa PGS.TS, trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật nào trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người?
PGS.TS Tường Duy Kiên: Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, nổi bật trên các phương diện sau:
Thứ nhất, nhận thức, quan điểm và khuôn khổ hiến định, pháp luật về quyền con người không ngừng được hoàn thiện. Từ Cương lĩnh, các văn kiện của Đảng đến Hiến pháp năm 2013, con người được xác định vừa là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, vừa là động lực và nguồn lực của phát triển.
Hiến pháp năm 2013 dành một chương riêng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời xác lập đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền, trên cơ sở đó, nhiều đạo luật tiếp tục được ban hành, sửa đổi, bổ sung. Đây là nền tảng pháp lý quan trọng để chuyển các giá trị quyền con người thành quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm có thể thực hiện, kiểm tra và bảo vệ trong thực tiễn.

Thứ hai, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đạt nhiều kết quả rõ nét, gắn liền với thành tựu phát triển và tiến bộ xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, phổ cập giáo dục, cung cấp điện, nước sạch, thông tin và dịch vụ thiết yếu được mở rộng. Hệ thống bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và các chính sách hỗ trợ người nghèo, người có công, người cao tuổi, trẻ em và các nhóm gặp khó khăn ngày càng được củng cố.
Quyền có chỗ ở an toàn được thể hiện đặc biệt rõ qua chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát. Đến tháng 8/2025, Việt Nam cơ bản hoàn thành mục tiêu trên phạm vi cả nước, sớm hơn 5 năm 4 tháng so với mục tiêu ban đầu.
Trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đã duy trì miễn học phí đối với học sinh tiểu học công lập và từ năm học 2025-2026 mở rộng thành chính sách miễn toàn bộ học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở công lập.
Trong lĩnh vực y tế, một bước tiến mới về bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe là từ năm 2026, Chính phủ tổ chức triển khai khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần cho người dân trên phạm vi toàn quốc.

Thứ ba, các quyền dân sự, chính trị và quyền tham gia của người dân tiếp tục được pháp luật ghi nhận và tạo điều kiện thực hiện. Quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền góp ý, phản biện, khiếu nại, tố cáo; quyền tiếp cận thông tin; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do kinh doanh, tự do sáng tạo và quyền bảo vệ danh dự, nhân phẩm, đời sống riêng tư ngày càng được cụ thể hóa. Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, tiếp công dân, đối thoại với người dân, lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trong xây dựng chính sách và cải cách thủ tục hành chính đã mở rộng thêm các kênh để nhân dân tham gia, giám sát và yêu cầu cơ quan công quyền giải trình.
Thứ tư, quyền của các nhóm dễ bị tổn thương được quan tâm ngày càng thực chất hơn. Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình, chính sách dành cho phụ nữ, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người cao tuổi, người nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và người chịu tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu. Một minh chứng cụ thể là chương trình đầu tư trường học cho trẻ em tại các xã biên giới đất liền. Tính đến tháng 6/2026 có 229/248 trường đã được khởi công.
Thứ năm, các cơ chế bảo vệ quyền, kiểm soát quyền lực và khắc phục hậu quả khi quyền bị xâm phạm từng bước được củng cố. Cải cách tư pháp, cải cách hành chính, trợ giúp pháp lý, bồi thường nhà nước, khiếu nại, tố cáo, thanh tra, kiểm tra, giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân đã tạo ra nhiều kênh để phát hiện, xử lý vi phạm.
Nhận thức về trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của người đứng đầu ngày càng được nhấn mạnh. Nhiều vụ việc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân đã được phát hiện, xem xét, xử lý; qua đó khẳng định nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, kể cả người thực thi công vụ, đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Thứ sáu, Việt Nam ngày càng chủ động và có trách nhiệm hơn trong hợp tác quốc tế về quyền con người. Việt Nam tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, thực hiện nghĩa vụ báo cáo, tham gia cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát, đối thoại với các cơ quan công ước và thúc đẩy nhiều sáng kiến hợp tác. Việc Việt Nam tiếp tục được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026-2028, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và đóng góp của Việt Nam.

PGS.TS đánh giá như thế nào về vai trò của hệ thống pháp luật nước ta trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người?
PGS.TS Tường Duy Kiên: Quyền con người là những giá trị vốn có của mỗi người, nhưng để các quyền đó không chỉ tồn tại trên giấy mà được tôn trọng và thực hiện trong đời sống, chúng phải được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện và bảo vệ bằng những cơ chế hữu hiệu.
Trước hết, pháp luật xác lập địa vị pháp lý của con người và xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 khẳng định, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Công thức “công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm” thể hiện đầy đủ các cấp độ trách nhiệm của Nhà nước: không được tùy tiện can thiệp vào quyền; phải ngăn ngừa và xử lý hành vi xâm phạm; đồng thời phải chủ động tạo điều kiện về thể chế, nguồn lực và dịch vụ công để người dân có thể thụ hưởng quyền trên thực tế.
Bên cạnh đó, pháp luật là công cụ quan trọng để giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước, qua đó góp phần phòng ngừa nguy cơ lạm quyền và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Pháp luật thiết lập cơ chế bảo vệ và khắc phục hậu quả khi quyền bị xâm phạm. Đồng thời, pháp luật tạo khuôn khổ để bảo đảm sự hài hòa giữa việc thực hiện quyền của mỗi cá nhân với quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích chính đáng của cộng đồng; đồng thời ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển, đồng thời lấy quyền, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo. Điều đó có nghĩa là xây dựng pháp luật phải chuyển mạnh từ tư duy thuận lợi cho cơ quan quản lý sang tư duy phục vụ nhân dân; từ chú trọng quyền hạn của bộ máy sang xác lập rõ trách nhiệm, giới hạn quyền lực và cơ chế bảo vệ người dân. Pháp luật tốt phải làm cho người dân được an toàn hơn, tự do hơn, có nhiều cơ hội phát triển hơn và có khả năng bảo vệ mình tốt hơn trước mọi hành vi xâm phạm.
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực và nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển. Giá trị sâu xa của phát triển được thể hiện ở việc người dân được sống an toàn, tự do và có nhân phẩm, được học tập, chăm sóc sức khỏe, có việc làm, an sinh xã hội và tiếp cận công lý; có cơ hội tham gia và thụ hưởng công bằng thành quả phát triển.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nâng yêu cầu này thành một quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa rất quan trọng: Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”. Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy: Quyền con người không chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực chính sách riêng biệt, mà trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị quốc gia và kết quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thực hiện: Nguyễn Vân I Thiết kế: Đồng Toàn

Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s