PV: Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV sáng 20/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở, về dài hạn, phải chuyển từ phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, quản trị hiện đại. Bà có nhìn nhận ra sao về quan điểm chỉ đạo này?

PGS.TS Lưu Bích Ngọc: Quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy phát triển mang tính đột phá của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đây không chỉ là sự điều chỉnh mô hình tăng trưởng, mà còn là sự chuyển đổi căn bản về động lực phát triển, nhằm đưa Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao trong bối cảnh kinh tế số, chuyển đổi xanh và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Muốn hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải tạo được những bước "bật lên", "tăng tốc" và "bứt phá" về năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong bối cảnh nguy cơ rơi vào "bẫy thu nhập trung bình", cùng với thách thức "chưa giàu đã già" do quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh, việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong thời gian dài là yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, tăng trưởng cao chỉ có thể bền vững khi được xây dựng trên nền tảng của năng suất lao động, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, thay vì tiếp tục dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư, gia công và lao động giá rẻ.

Quan điểm chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ và con người là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thế giới cũng như yêu cầu phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Điều đó đồng thời khẳng định con người là trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực quan trọng nhất và cũng là mục tiêu của quá trình phát triển.

Vì vậy, giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được xác định là những đột phá chiến lược, tạo nền tảng để nâng cao năng suất lao động, năng lực quản trị quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để Việt Nam xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ, từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu với vị thế ngày càng cao, thay vì chỉ tham gia ở các khâu gia công có giá trị gia tăng thấp.

Ảnh: Trường Giang, Nguyễn Trang, Công Luận

PV: Trước đó, tại buổi làm việc với ngành Nội vụ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn lao động, chuyển từ số lượng, sang tập trung nâng cao chất lượng. Theo bà, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, kết hợp với khoa học công nghệ và quản trị hiện đại có vai trò ra sao trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang tập trung thu hút các nguồn vốn FDI thế hệ mới?

PGS.TS Lưu Bích Ngọc: Hiện nay, nếu nhìn ở góc độ quy mô, Việt Nam không thiếu nguồn nhân lực. Với gần 70 triệu người trong độ tuổi từ 15-64 và lực lượng lao động lên tới 53,8 triệu người (tháng 6/2026) và đang trong giai đoạn “dân số vàng”, đây vẫn là một lợi thế rất lớn so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Tuy nhiên, điều chúng ta đang thiếu lại chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn chưa cao; đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học, nhân lực trong các ngành công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, năng lượng mới hay các nhà quản trị có năng lực dẫn dắt đổi mới sáng tạo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Vì vậy, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về việc chuyển trọng tâm từ phát triển nguồn nhân lực theo số lượng sang nâng cao chất lượng là rất đúng thời điểm và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, hướng tới tốc độ tăng trưởng hai con số trong những năm tới, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Nguồn nhân lực chất lượng cao, khi được kết hợp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại, sẽ tạo ra động lực để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công sang nền kinh tế dựa trên tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao. Đồng thời, đây cũng là nền tảng để thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, góp phần cải thiện năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Đối với thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới, khi mục tiêu không chỉ là thu hút nhiều vốn FDI mà là thu hút có chọn lọc các dòng vốn FDI thế hệ mới, có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường và có khả năng lan tỏa công nghệ. Trong bối cảnh đó, lợi thế về lao động giá rẻ đang dần mất đi và không còn là yếu tố quyết định như trước.

Các tập đoàn đa quốc gia hiện nay quan tâm nhiều hơn đến chất lượng nguồn nhân lực, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), chất lượng quản trị và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Có thể nói, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là "hạ tầng mềm" quan trọng nhất để Việt Nam đón nhận làn sóng đầu tư mới.

Muốn "trải thảm đỏ" thu hút các doanh nghiệp hàng đầu trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học hay năng lượng sạch, Việt Nam trước hết phải chuẩn bị một lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng số, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Đây là yêu cầu mang tính bắt buộc, đồng thời cũng là lợi thế cạnh tranh bền vững để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn FDI chất lượng cao trong thời gian tới.

Ảnh: Trường Giang

PV: Trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh cần gắn đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh. Bà có nhận định ra sao về định hướng này? Để đạt được mục tiêu này, nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò ra sao, thưa bà?

PGS.TS Lưu Bích Ngọc: Tôi cho rằng định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về việc gắn thu hút đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực nội sinh có ý nghĩa chiến lược, thể hiện tư duy phát triển dài hạn và bền vững. Thu hút FDI không chỉ nhằm bổ sung nguồn vốn cho đầu tư, sản xuất và tăng trưởng kinh tế, mà quan trọng hơn là phải tạo ra hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, tri thức, kỹ năng quản trị và năng lực đổi mới sáng tạo. Nếu chỉ thu hút vốn mà không tiếp nhận được công nghệ, không hình thành được năng lực làm chủ công nghệ và không nâng cao được năng lực của doanh nghiệp trong nước thì nền kinh tế sẽ tiếp tục phụ thuộc vào khu vực FDI, giá trị gia tăng tạo ra còn hạn chế và khó xây dựng được nền kinh tế có sức cạnh tranh cao. Vì vậy, gắn FDI với chuyển giao công nghệ chính là con đường để Việt Nam vừa huy động được nguồn lực bên ngoài, vừa từng bước củng cố và phát huy các nguồn lực nội sinh, hướng tới một nền kinh tế phát triển dựa trên nội lực, tự chủ, tự cường và có khả năng thích ứng trước những biến động của kinh tế thế giới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, yếu tố quyết định chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong các nguồn lực nội sinh của quốc gia, “vốn con người” là nguồn lực quan trọng nhất, bởi con người không chỉ là đối tượng tiếp nhận công nghệ mà còn là chủ thể làm chủ, cải tiến, sáng tạo và phát triển công nghệ mới. Chỉ khi có đội ngũ nhân lực trình độ cao, có năng lực nghiên cứu, thiết kế, quản lý, vận hành và đổi mới công nghệ thì quá trình chuyển giao công nghệ mới thực sự mang lại hiệu quả, tạo ra sự lan tỏa sang doanh nghiệp trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Nói cách khác, nguồn nhân lực chất lượng cao vừa là điều kiện để hấp thụ công nghệ tiên tiến, vừa là nhân tố quyết định chuyển hóa công nghệ thành năng suất, giá trị gia tăng và sức mạnh nội sinh của quốc gia.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, nguồn nhân lực chất lượng cao cần được xác định là yếu tố "then chốt của đột phá chiến lược". Đây không chỉ là đầu vào của quá trình phát triển mà còn là lực lượng kiến tạo những động lực tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chính đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ góp phần hình thành các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước và từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng chính là đầu tư cho năng lực nội sinh, cho sức cạnh tranh quốc gia và cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong nhiều thập kỷ tới.

PV:Theo bà, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới, cần những giải pháp nào, thưa bà?

PGS.TS Lưu Bích Ngọc: Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới, theo tôi, cần có cách tiếp cận đồng bộ, xuyên suốt từ giáo dục, đào tạo đến sử dụng, phát triển và trọng dụng nhân tài.

Trước hết, cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần phát triển năng lực và phẩm chất người học, gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế. Giáo dục không chỉ truyền thụ kiến thức mà phải hướng tới thực học – thực hành – thực nghiệp, giúp người học hình thành tư duy đổi mới sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng số, khả năng thích ứng và tinh thần tự chủ, tự học, tự vươn lên. Quan trọng hơn, cần xây dựng trong mỗi người văn hóa học tập suốt đời để việc học không chỉ diễn ra trong nhà trường mà trở thành nhu cầu và động lực phát triển của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời.

Muốn vậy, việc xây dựng xã hội học tập phải trở thành một chiến lược phát triển quốc gia. Mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng, mỗi cơ quan, doanh nghiệp đều cần trở thành một chủ thể của học tập và sáng tạo. Khi học tập suốt đời trở thành một giá trị văn hóa và một chuẩn mực xã hội, chúng ta sẽ tạo dựng được nguồn nhân lực có khả năng liên tục cập nhật tri thức, thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Đây cũng chính là nền tảng để nâng cao chất lượng “vốn con người” và năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.

Ảnh: Thanh Nga, Công Luận, Sỹ Đức

Bên cạnh đó, các chủ trương đổi mới giáo dục và đào tạo đang được triển khai hiện nay cần tiếp tục được đầu tư mạnh mẽ và nhận được sự đồng hành của toàn xã hội. Từ đổi mới chương trình giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đến đổi mới giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đều phải hướng tới phát triển năng lực người học và đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Đặc biệt, cần thực hiện phân luồng và hướng nghiệp hiệu quả để mỗi thanh niên có thể lựa chọn con đường phù hợp, dù là học đại học hay giáo dục nghề nghiệp, thì đều được tiếp cận các chương trình đào tạo hiện đại, gắn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và các ngành công nghệ mới. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống giáo dục mở, thúc đẩy liên thông giữa các bậc học và trình độ đào tạo, công nhận kết quả học tập từ nhiều phương thức khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người lao động có thể học tập, nâng cao kỹ năng và chuyển đổi nghề nghiệp trong suốt cuộc đời.

Một giải pháp rất quan trọng khác là tạo dựng môi trường để nguồn nhân lực phát huy tối đa năng lực và cống hiến. Chất lượng nguồn nhân lực không chỉ được quyết định bởi đào tạo mà còn phụ thuộc vào cơ chế sử dụng, đãi ngộ và tạo động lực. Cần có các chính sách khuyến khích người lao động không ngừng học hỏi, nâng cao kỹ năng, phát huy sáng kiến, đổi mới sáng tạo và đóng góp nhiều hơn cho doanh nghiệp, cộng đồng và đất nước. Khi người lao động nhìn thấy cơ hội phát triển, được ghi nhận và được tạo điều kiện phát huy năng lực, họ sẽ trở thành động lực trực tiếp nâng cao năng suất lao động và tạo ra những giá trị mới cho nền kinh tế.

Cuối cùng, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, Việt Nam cần có chính sách đủ mạnh để phát hiện, thu hút, trọng dụng và phát huy nhân tài. Điều này không chỉ dành cho  thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và người lao động trình độ cao trong nước mà còn cần có cơ chế hấp dẫn để thu hút người Việt Nam ở nước ngoài, các chuyên gia quốc tế và đội ngũ trí thức Việt Nam toàn cầu tham gia đóng góp cho sự phát triển đất nước.

Khi kết hợp hiệu quả giữa đào tạo nguồn nhân lực trong nước, xây dựng xã hội học tập, phát triển văn hóa học tập suốt đời và chính sách trọng dụng nhân tài, Việt Nam sẽ từng bước hình thành được đội ngũ nhân lực chất lượng cao đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có khả năng làm chủ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

PV: Xin cảm ơn bà!

Tác giả: Nguyễn Trang - Trình bày: Kiều Anh


Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Tư, 09:33, 22/07/2026

VOV.VN trên Google News