

Định hướng chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng đầu vào sang phát triển dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và con người là nội dung được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở trong bài phát biểu Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam đã có trao đổi với TS Trịnh Thị Tú Anh, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội xung quanh nội dung này.

Thưa bà, theo gợi mở của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, về dài hạn, Việt Nam cần chuyển từ phụ thuộc vào vốn, tài nguyên, gia công, lao động giá rẻ sang dựa vào năng suất, tri thức, dữ liệu, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, quản trị hiện đại. Bà có nhìn nhận ra sao về quan điểm định hướng này?

Tôi cho rằng, phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ là một định hướng phát triển kinh tế mà còn là một yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển của quốc gia. Điều đó có nghĩa là chúng ta không chỉ thay đổi cách tạo ra tăng trưởng, mà phải thay đổi cả cách tạo ra tri thức, tạo ra công nghệ và tạo ra năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong hơn ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã tận dụng rất tốt các lợi thế về lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh, tài nguyên và dòng vốn đầu tư nước ngoài để đạt tốc độ tăng trưởng cao. Tuy nhiên, những lợi thế này đang dần thu hẹp khi dân số bước vào giai đoạn già hóa, tiền lương tăng lên, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và đặc biệt là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, tự động hóa đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất trên toàn cầu.

Thực tiễn thế giới cho thấy, không có quốc gia nào có thể phát triển bền vững chỉ dựa vào vốn đầu tư hay tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên rồi sẽ cạn kiệt, lao động giá rẻ sẽ mất dần lợi thế khi thu nhập tăng lên, còn dòng vốn đầu tư quốc tế luôn dịch chuyển đến nơi có hiệu quả cao hơn. Điều duy nhất tạo nên sức cạnh tranh lâu dài của một quốc gia chính là năng suất lao động, mà năng suất lại được quyết định bởi trình độ khoa học, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị.
Chúng ta có thể nhìn vào kinh nghiệm của Hàn Quốc hay Phần Lan. Những quốc gia này không có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng họ đã đầu tư bền bỉ vào giáo dục, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và xây dựng các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh toàn cầu. Trung Quốc cũng vậy, trong khoảng hơn hai thập kỷ qua, họ không chỉ thu hút đầu tư nước ngoài mà còn từng bước chuyển từ "công xưởng của thế giới" sang mục tiêu trở thành cường quốc khoa học và công nghệ. Điểm chung của các quốc gia đó là họ đều coi khoa học, công nghệ và con người là động lực phát triển cốt lõi.

Tôi đặc biệt đồng tình với việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt "quản trị hiện đại" bên cạnh "công nghệ" và "nhân lực chất lượng cao". Bởi kinh nghiệm quốc tế cho thấy, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi có thể chế phù hợp; nhân tài chỉ phát huy được năng lực khi có môi trường để cống hiến; còn đổi mới sáng tạo chỉ phát triển khi hệ thống quản trị biết chấp nhận cái mới, chấp nhận rủi ro và khuyến khích sáng tạo.
Nói cách khác, chuyển đổi mô hình tăng trưởng không chỉ là đầu tư thêm cho khoa học - công nghệ, mà còn là xây dựng một hệ sinh thái quốc gia, trong đó giáo dục, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, thị trường và Nhà nước được kết nối thành một chuỗi tạo ra tri thức và chuyển hóa tri thức thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo tôi, đây mới là ý nghĩa sâu xa của yêu cầu chuyển từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực sang tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo.
Theo bà, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có vai trò ra sao trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang tập trung thu hút các nguồn vốn FDI thế hệ mới?

Theo tôi, trong giai đoạn trước, lợi thế của Việt Nam là quy mô lực lượng lao động. Nhưng trong giai đoạn phát triển mới, lợi thế cạnh tranh sẽ không còn là số lượng lao động, mà là chất lượng của từng người lao động.
Các dòng vốn FDI thế hệ mới không còn chỉ tìm kiếm nơi có chi phí thấp để đặt nhà máy. Họ lựa chọn những quốc gia có nguồn nhân lực có thể tiếp nhận công nghệ, vận hành dây chuyền hiện đại, tham gia nghiên cứu, thiết kế sản phẩm và đổi mới quy trình sản xuất. Điều đó có nghĩa là chất lượng nguồn nhân lực sẽ quyết định vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Quan trọng hơn, nếu không nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì chúng ta rất dễ rơi vào nghịch lý thu hút được các dự án công nghệ cao nhưng phần lớn giá trị gia tăng vẫn thuộc về doanh nghiệp nước ngoài, còn lao động trong nước chỉ tham gia ở những công đoạn có hàm lượng tri thức thấp.
Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, mà còn để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tạo ra những doanh nghiệp công nghệ của chính mình.

Theo bà, để có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong thời gian tới, cần những giải pháp căn cơ nào?

Theo tôi, giải pháp căn cơ nhất là phải chuyển từ tư duy "đào tạo nhân lực" sang tư duy "xây dựng hệ sinh thái phát triển nhân lực". Việt Nam không chỉ cần nhiều lao động hơn mà cần nhiều lao động có kỹ năng cao hơn, có khả năng thích ứng với công nghệ mới và tham gia vào những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực chất lượng cao không thể được nhìn nhận chỉ là sản phẩm của ngành giáo dục. Đây là sản phẩm của cả một hệ thống.
Một học sinh giỏi chỉ trở thành nhà khoa học khi có trường đại học tốt để đào tạo, có viện nghiên cứu mạnh để làm việc, có phòng thí nghiệm hiện đại để nghiên cứu, có doanh nghiệp sẵn sàng ứng dụng kết quả nghiên cứu và có một thị trường đủ lớn để công nghệ được thương mại hóa. Nếu thiếu bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi đó thì rất khó hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao một cách bền vững.
Giáo dục phổ thông và giáo dục đại học chắc chắn là nền tảng. Chúng ta cần tiếp tục đổi mới theo hướng phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, năng lực số, ngoại ngữ và khả năng học tập suốt đời thay vì chỉ truyền thụ kiến thức. Đồng thời, đào tạo phải gắn chặt với nhu cầu của nền kinh tế và các lĩnh vực chiến lược mà đất nước đang ưu tiên phát triển.

Nhưng như vậy vẫn chưa đủ, Việt Nam cần tổ chức lại hệ thống nghiên cứu quốc gia theo hướng phân tầng rõ ràng. Cần có những viện nghiên cứu cơ bản làm nhiệm vụ tạo ra tri thức mới; những viện nghiên cứu chiến lược phục vụ các mục tiêu phát triển đất nước trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng hạt nhân, vật liệu mới, khoa học biển; đồng thời phát triển mạnh các viện nghiên cứu ứng dụng gắn với doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất.
Đi cùng với đó là đầu tư có trọng điểm cho các phòng thí nghiệm quốc gia, các trung tâm nghiên cứu xuất sắc với trang thiết bị hiện đại, thay vì đầu tư dàn trải. Trong khoa học, thiết bị nghiên cứu không đơn thuần là tài sản mà chính là năng lực nghiên cứu. Không thể kỳ vọng tạo ra công nghệ ngang tầm quốc tế nếu các nhà khoa học không có điều kiện tiếp cận hạ tầng nghiên cứu tương xứng.
Một điểm rất quan trọng nữa là phải tạo ra "đề bài" cho khoa học. Muốn có nhân tài thì trước hết phải có việc để nhân tài làm. Nhà nước cần xác định những chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm kéo dài 10 đến 20 năm trong các lĩnh vực chiến lược, giao nhiệm vụ rõ ràng cho các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cùng tham gia. Chính những nhiệm vụ lớn của quốc gia sẽ tạo ra môi trường để các nhà khoa học trưởng thành, để các nhóm nghiên cứu được hình thành và để thế hệ trẻ nhìn thấy con đường phát triển nghề nghiệp của mình.

Bên cạnh đó, để tạo ra tri thức mới, công nghệ mới, đổi mới sáng tạo, việc thu hút và giữ chân nhân tài vào các lĩnh vực trọng điểm cũng là bài toán cần đặt ra. Theo bà, đâu là giải pháp cho bài toán này?

Theo tôi, nhân tài không thể được giữ chân chỉ bằng lời kêu gọi hay chính sách đãi ngộ đơn lẻ. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được một môi trường mà người tài có thể phát huy tối đa năng lực của mình.
Thực tế cho thấy, các nhà khoa học giỏi không chỉ quan tâm đến thu nhập mà còn quan tâm đến điều kiện nghiên cứu, quyền tự chủ học thuật, cơ hội hợp tác quốc tế, khả năng tiếp cận các phòng thí nghiệm hiện đại và đặc biệt là sự ổn định của chính sách nghiên cứu trong dài hạn.
Vì vậy, Nhà nước cần tập trung đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và các chương trình nghiên cứu dài hạn trong những lĩnh vực chiến lược. Đối với nghiên cứu cơ bản và các công nghệ lõi, cần có cơ chế đầu tư ổn định vì đây là những lĩnh vực có thời gian tích lũy rất dài và khu vực tư nhân khó có thể đầu tư thay thế. Bên cạnh đó, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế sử dụng nhân tài theo hướng đánh giá dựa trên năng lực và kết quả cống hiến, tạo điều kiện để người trẻ có năng lực sớm được giao nhiệm vụ lớn, được trao quyền và được chấp nhận cả những rủi ro trong nghiên cứu khoa học.
Tôi cho rằng, về bản chất, nhân tài không phải là nguồn lực có thể "đi tìm" hay "đi thu hút" bằng những chính sách ngắn hạn. Nhân tài là sản phẩm của một hệ thống giáo dục tốt, một nền khoa học mạnh, một thị trường lao động minh bạch và một thể chế biết trọng dụng thực tài. Khi hệ thống đó được thiết kế đúng, nhân tài sẽ được hình thành, được giữ lại và tiếp tục tạo ra những giá trị mới cho đất nước.
Xin cảm ơn bà!
Tác giả: Nguyễn Trang
Thiết kế: Đồng Toàn

Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s