
Đạo diễn Việt Tú, Nhà sáng lập và Giám đốc sáng tạo của Dream Studio là một trong những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, một doanh nhân hoạt động lâu năm trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.
Không bắt đầu bằng những tuyên ngôn khoa trương, tư duy sáng tạo của anh được bồi đắp từ sự quan sát tĩnh lặng, tinh thần làm việc kỷ luật nghiêm túc cùng triết lý “độc bản" để tạo nên những tác phẩm mang giá trị bền vững. Hành trình nghệ thuật sáng tạo bằng tư duy độc bản ấy của anh ghi dấu ấn sâu sắc với những dấu mốc khiến không ít người thán phục.

Cột mốc khởi đầu từ Nhật thực 1 năm 2002 kết hợp cùng Diva Hà Trần của anh không chỉ đưa nghệ thuật đương đại lên sân khấu ca nhạc nội địa, mang về giải thưởng Đột phá và đặt nền móng cho kỷ lục 05 lần đoạt Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến (trong 8 lần đề cử, bên cạnh 02 lần giành giải Nhất VTV - Bài hát tôi yêu), mà còn góp phần thay đổi tư duy dàn dựng sân khấu biểu diễn tại Việt Nam.
Ở tuổi 26, năm 2003, Việt Tú từng đảm nhận vai trò Tổng đạo diễn truyền hình cho Lễ khai mạc và bế mạc SEA Games 22.Là người từng theo học chuyên ngành Quản trị nghệ thuật và nghiên cứu về nghệ thuật đương đạitại New York (Mỹ), thế giới quan của anh có thêm sự khoáng đạt của tư duy toàn cầu nhưng lại định hình rõ ràng hơn tình yêu với văn hoá bản địa. Điều đó được thể hiện rõ nét trong chuỗi Không gian âm nhạc (2011 - 2012), Liveshow đầu tay Những chuyến đi của ca sĩ Tùng Dương, chương trình Bài hát yêu thích (2012 - 2015), Mùa đông concert (2013), Hồ Ngọc Hà Live Concert (2011 và 2014)…
Tư duy đương đại này cũng được anh thể hiện linh hoạt ở các định dạng giải trí thế hệ mới như gameshow Sao đại chiến (2017), Lễ trao giải WeChoice Awards (2017 - 2024) hay Lễ hội âm nhạc Cocofest (2018).

Bằng bản lĩnh khai phá không ngừng nghỉ, anh trở thành một trong những người tiên phong khai mở kỷ nguyên sân khấu thực cảnh với Thuở ấy Xứ Đoài (2017). Tiếp đó là các siêu phẩm thực cảnh đa phương tiện triệu đô in đâm bản sắc văn hóa dân tộc và mang dấu ấn toàn cầu như Tata Show (10 triệu USD tại VinWonders Nha Trang) hay tổ hợp Tinh Hoa Việt Nam và Sắc Màu Venice (8,3 triệu USD trên diện tích 11.200 m² tại Grand World Phú Quốc.)

Năm 2026 đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của ngành công nghiệp biểu diễn Việt Nam. Từ các Concert, Festival âm nhạc thương mại “cháy vé” tới các Lễ hội văn hóa, di sản quy mô toàn quốc và quốc tế, thị trường tổ chức sự kiện giải trí và lễ hội văn hóa Việt Nam từ đầu năm 2026 đến nay dường như không còn là sân chơi ngẫu hứng nghệ thuật, đơn lẻ, hay sự tài trợ thuần túy, mà đã chính thức bước vào giai đoạn phát triển chưa từng có, chuẩn hóa quy trình và đứng trước bước ngoặt thể chế lịch sử.
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã mở ra định hướng phát triển mới, trong đó văn hóa được xác định là nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng của đất nước. Đằng sau những siêu phẩm thực cảnh triệu đô hay những đại nhạc hội bùng nổ năm 2026, có một “doanh nhân văn hóa” lặng lẽ quan sát, phân tích bằng kỷ luật khắc nghiệt và kiên định với tư duy độc bản. Đó là Đạo diễn Việt Tú. Để có cái nhìn rõ nét hơn về thực tế thị trường tổ chức sự kiện giải trí và lễ hội văn hóa Việt Namtrong bối cảnh ngành công nghiệp văn hóa đang được xác định là động lực tăng trưởng mới, phóng viên Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) đã có cuộc trao đổi với đạo diễn về bước ngoặt thể chế lịch sử từ Nghị quyết 80-NQ/TW, bài toán định giá IP nghệ thuật và lời giải cho khát vọng 7% GDP.

PV: Thưa đạo diễn Việt Tú, nhìn vào thị trường giải trí và lễ hội văn hóa Việt Nam từ đầu năm 2026 đến nay, người ta dễ bị choáng ngợp bởi những concert hoành tráng, những đại sân khấu quy mô từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh, hay các di sản nghìn năm được "đánh thức" bằng công nghệ trình diễn đỉnh cao. Từ góc nhìn của một nhà sản xuất các dự án công nghiệp văn hoá, giải trí lâu năm, ông đánh giá thế nào về thực tế thị trường sự kiện giải trí, hay rộng ra là công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay?
Đạo diễn Việt Tú: Tôi thấy đây là một tín hiệu đáng mừng khi văn hoá đang được đặt ở một vị trí trọng tâm trong sự phát triển kinh tế và trở thành nhu cầu đúng nghĩa của đại bộ phận khán giả. Một yếu tố nữa cũng rất quan trọng, đó chính là thói quen tiêu dùng văn hoá đã được hình thành, thay vì tư duy chờ phát giấy mời, xem miễn phí. Sự đổi mới về cách kể chuyện bằng công nghệ hiện đại cũng là một điểm nhấn đáng chú ý, khi các nhà sản xuất nội dung, nhà sáng tạo đã chuyển mình không ngừng để có thể song hành cùng sự phát triển về nhu cầu thưởng thức của khán giả. Nhiều chương trình, sự kiện dần cho thấy tầm vóc của những sự kiện lớn, đạt chuẩn không chỉ về quy mô mà còn về cách thức tổ chức, vận hành bài bản của các sự kiện quốc tế.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào đó để lạc quan hoàn toàn về sự phát triển của nền công nghiệp văn hóa thì tôi cho rằng là chưa, thị trường giải trí, sự kiện vốn mới đang chỉ dần thoả mãn nhu cầu khán giả trong nước, trong khi công nghiệp văn hóa vốn gắn liền với sự tăng trưởng của thị trường du lịch nội địa và toàn cầu. Riêng mảng lễ hội tôi thấy rằng cách thức tổ chức, và tư duy đang bị khá truyền thống, nó phục vụ nhu cầu của hầu hết địa phương về thành tích hơn là một sản phẩm để tạo điểm đến, hình thức tổ chức bị giống nhau lặp lại hàng năm và khá lãng phí nguồn lực tài chính. Muốn làm công nghiệp văn hóa điều đầu tiên phải thay đổi tư duy từ tổ chức sự kiện một lần thành sản phẩm du lịch thu hút du khách hàng ngày để tạo ra một hệ sinh thái điểm đến, đó mới là điều chúng ta cần triển khai gấp rút, vì hiện tại công nghiệp văn hóa của chúng ta đang rất thiếu sản phẩm. Vì vậy, sự sôi động của thị trường giải trí hiện tại, chưa đồng nghĩa với sự phát triển hiệu quả về công nghiệp văn hóa.

PV:Từ những phân tích đó, ông có cho rằng chúng ta đã thực sự đi đúng hướng theo tinh thần Nghị quyết 80 và bước đầu đạt được những mục tiêu đặt ra cho công nghiệp văn hoá tính đến thời điểm hiện tại?
Đạo diễn Việt Tú: Tôi cho rằng chúng ta đang đi đúng hướng nhưng có nhiều dự án làm chưa đúng cách, nên kết quả đầu ra chưa hoàn toàn như mong muốn. Việc thị trường sôi động không có nghĩa là chúng ta đã đạt được kỳ vọng. Ví dụ, một trong những điểm được nói đến nhiều là các concert, hay lễ hội văn hoá với hàng chục hay cả trăm ngàn người tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, các sản phẩm mảng này chủ yếu phục vụ nhu cầu giải trí nội địa. Hay một số điểm đến có lượng du khách lịch tăng, nhưng chi tiêu bình quân trên đầu khách vẫn không tăng do thiếu sản phẩm phục vụ tệp này dù hàng năm vẫn tổ chức lễ hội đều đặn. Nên ở khía cạnh người làm chuyên môn tôi cho rằng, để có được cái nhìn chính xác thì cần nhìn vào số liệu phân tích, chứ không chỉ nhìn vào các biểu hiện bề nổi của thị trường.
PV: Hai nội dung gần đây đang được cân nhắc đưa vào Luật Phát triển Công nghiệp Văn hoá là các kịch bản, ý tưởng, game…có thể coi như tài sản sở hữu trí tuệ (IP) có thể chấp ở ngân hàng để huy động vốn, và việc gắn kết dự án bất động sản với công nghiệp văn hoá. Theo ông, điều này sẽ tác động như thế nào đến sự phát triển của công nghiệp văn hoá và giải trí tại Việt Nam?
Đạo diễn Việt Tú: Đây chính là hai trong số các góp ý chính của tôi cho dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa. Về ý thứ nhất, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện tại đang là nhiều nhà sáng tạo không tiếp cận được nguồn vốn để tạo ra sản phẩm, nhiều dự án về triển công nghiệp văn hóa gặp khó trong việc hiện thực hoá, việc cho phép thế chấp các tài sản dạng này hứa hẹn sẽ là một bước ngoặt thiết thực để giải bài toán thiếu các sản phẩm cho triển công nghiệp văn hóa.

Còn về ý tưởng mỗi dự án bất động sản nên gắn liền với một dự án về công nghiệp văn hoá, hay nghệ thuật cộng đồng thì xuất phát từ thực tiễn hầu hết mỗi dự án bất động sản tự thân đã phát sinh các nhu cầu này dưới các hình thức khác nhau. Các nhà phát triển bất động sản thường có bộ phận nghiên cứu tự làm hoặc thuê một bên thứ ba là những nhà thầu nước ngoài làm. Nếu chính sách này thành hiện thực cơ hội cũng sẽ mở ra rộng hơn với các nhà sáng tạo nội địa, và đây cũng là một cấu phần của chính sách ba nhà mà tôi cũng đã từng nhiều lần đề cập.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, chính sách nào cũng cần được hiểu thấu đáo, ví dụ mặc dù có chính sách nhận thế chấp tài sản sở hữu trí tuệ nhưng không có nghĩa các ngân hàng bắt buộc phải làm điều này, nó phụ thuộc vào chính sự hấp dẫn của từng dự án mà mỗi nhà sáng tạo sở hữu. Hay không nhất thiết dự án bất động sản nào cũng nên gắn với các dự án công nghiệp văn hoá dạng phục dựng di sản truyền thống, mà có thể đa dạng gắn với ý tưởng phát triển của chính dự án ấy.
PV: Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu đưa văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, một động lực phát triển và ngành kinh tế có khả năng đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng đất nước. Như vậy, thị trường sự kiện giải trí và lễ hội văn hóa đang đứng trước những cơ hội chưa từng có, nhưng đi cùng với đó sẽ là những thách thức nào thưa đạo diễn?
Đạo diễn Việt Tú: Không chỉ riêng thị trường giải trí, hay lễ hội văn hoá…mà cả nền công nghiệp văn hoá của chúng ta đều đang đứng trước cơ hội lớn. Đi cùng với đó là những thách thức lớn như:
Sự quyết liệt trong việc thực thi bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ (đây đang là một trong những sức ép lớn nhất của chúng ta trong các hiệp định thương mại, và thị trường toàn cầu).
Tiếp đến, một thị trường mà các sản phẩm giải trí hầu hết đang phần lớn phụ thuộc vào bầu sữa của nhà tài trợ, thay vì tự thân có thể sống được bằng tiền bán vé và hệ sinh thái của mình.

Sự song song tồn tại của nhiều sự kiện giải trí miễn phí từ các nhãn hàng với mục đích làm marketing cũng ảnh hưởng không nhỏ tới thói quen tiêu dùng nghệ thuật của đại bộ phận khán giả.
Tư duy truyền thống về “tổ chức sự kiện” một lần được áp dụng vào các dự án dài hơi về công nghiệp văn hóa cũng tạo ra sự chưa hiệu quả cho các chỉ số đầu ra mong đợi.

PV: Việt Nam đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030. Theo ông, với cách làm hiện nay, ngành nghệ thuật biểu diễn, trong đó có sự kiện giải trí và lễ hội văn hóa nói riêng, ngành công nghiệp văn hóa nói chung có đạt được mục tiêu đó không?
Đạo diễn Việt Tú: Tôi cho rằng cơ hội vẫn còn nếu chúng ta kịp thay đổi tư duy về cách triển khai và cách làm. Hiện đã gần hết năm 2026, năm đầu tiên trong kế hoạch 7%GDP (2026 – 2030) nhưng hiện chúng ta mới đạt hơn 4% so với kế hoạch đề ra. Trong khoảng thời gian 3 năm còn lại, điều đầu tiên nếu muốn đi nhanh thì chúng ta cần có một mapping tổng thể để biết mình cần làm gì, đầu tư vào những dự án trọng điểm nào, tiếp đến là bộ chỉ số đo đếm để các sản phẩm đi theo bộ chỉ số đó. Và cuối cùng, cần thay đổi tư duy làm sản phẩm từ “tổ chức sự kiện” thành dự án về công nghiệp văn hóa với các KPI rõ ràng để có thể theo dõi một cách hệ thống và có thể cập nhật realtime nhằm biết được chúng ta đã đi được đến đâu trong mục tiêu đề ra.
PV: Nghị quyết 80 nhấn mạnh Chủ quyền văn hóa số và Chuyển đổi số. Xu hướng này đang hiện hữu thế nào trên các sân khấu năm 2026 và cần những chính sách gì để hỗ trợ được mạnh mẽ tầm nhìn này, thưa đạo diễn?
Đạo diễn Việt Tú: Vấn đề này cũng nằm trong số những đóng góp ý kiến của tôi. Để quản trị từ nguồn thì cần sớm thiết lập các hạn ngạch về nhập khẩu các IP văn hoá ngoại và có chính sách bảo hộ, ưu đãi để khuyến khích sáng tạo các IP văn hoá nội. Chủ quyền chính là bản quyền và chính là tấm giấy thông hành của mỗi cá nhân, dân tộc khi đi ra quốc tế, nếu nội lực văn hoá chưa đủ mạnh thì sự xâm thực văn hoá là khó tránh khỏi.
Vì vậy, song song với việc chuyển đổi số, số hoá nguồn lực di sản, thì bản thân việc hành động để biến di sản thành tài sản, cũng như bảo hộ để thị trường nội địa có thể phát triển và tiến đến xuất khẩu văn hoá chính là một chiến lược để chống xâm thực văn hoá, bảo vệ chủ quyền số, và gia tăng ảnh hưởng cho quyền lực mềm của quốc gia ở phạm vi toàn cầu.

PV: Từ kinh nghiệm thực chiến và góc nhìn chiến lược năm 2026, ông có lời khuyên nào dành cho các doanh nghiệp, các nhà khởi nghiệp đang dấn thân vào ngành công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hoá, cụ thể là sự kiện giải trí và lễ hội văn hóa hiện nay?
Đạo diễn Việt Tú: Văn hoá dân tộc sẽ luôn là nền tảng quan trọng nhất trong mọi dự án về công nghiệp văn hóa. Ngoài ra, các nhà khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, giải trí cần thay đổi tư duy làm sự kiện một lần sang tư duy các dự án mang tính dài hạn với các chỉ số đầu ra rõ ràng. Với bất kỳ nền công nghiệp nào chất xám và quyền sở hữu trí tuệ luôn là tài sản quí giá nhất cần được bảo vệ. Bấy lâu nay phần lớn thị trường giải trí do hoạt động trong những điều kiện lệch chuẩn, các nhà sản xuất thường quên mất yếu tố quan trọng nhất trong ngành này là phải cạnh tranh bằng chất xám, thay vì quy mô sản xuất, và giảm giá, lấy số lượng bù chất lượng. Điều này đã ảnh hưởng tới chất lượng của các tác phẩm, sản phẩm văn hoá. Chúng ta đang nhầm lẫn trong cách định vị ngành, vì vậy nhiều nhà sáng tạo đã đánh mất cả cơ hội, lẫn lợi thế để có thể tạo ra những giá trị cho sự nghiệp mà mình theo đuổi. Nhiều nhà sáng tạo thậm chí còn không ý thức được tầm quan trọng của bản quyền nên vẫn mặc nhiên để các xâm phạm diễn ra.

Tầm nhìn và yêu cầu của Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam, cùng với thực tế Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đang quyết tâm triển khai mạnh mẽ việc phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo của chính phủ về công nghiệp văn hóa là một vận hội lớn cho không chỉ ngành văn hoá mà cho cả nền kinh tế. Tuy nhiên cơ hội này sẽ chỉ dành cho những ai kiên định trong việc giữ gìn các giá trị, bản sắc, và các nguyên tắc để có thể đi được đến đích mà tất cả chúng ta mong đợi.
PV: Xin cảm ơn đạo diễn Việt Tú!
Tác giả: Hoàng Yến
Thực hiện: Đồng Toàn

Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s