/
--°C

Một trong những vấn đề trong Luật Kiến trúc sửa đổi được nhiều đại biểu quan tâm là quy định về bản sắc kiến trúc. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để Luật Kiến trúc sửa đổi thực sựtrở thành “chiếc phanh” chiến lược ngăn chặn làn sóng đô thị hóa và bê tông hóa tự phát đang đe dọa bản sắc văn hóa dân tộc tại các làng bản vùng cao? Trước yêu cầu cụ thể hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa, phóng viên Báo điện tử VOV đã có cuộc trao đổi với TS. Trần Hữu Sơn, TS. dân tộc học, chuyên gia nghiên cứu văn hóa vùng cao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Du lịch ứng dụng xung quanh bài toán giữ “linh hồn” bản sắc trong quy hoạch và các “mỏ neo” pháp lý để bản sắc đóng vai trò là nguồn lực phát triển bền vững.

PV: Thưa Tiến sĩ, liên quan đến Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc được Quốc hội thảo luận tại hội trường vừa qua, có ý kiến cho rằng làn sóng bê tông hóa đang làm mai một các giá trị kiến trúc đặc trưng tại vùng cao và nông thôn. Dưới góc độ nhà nghiên cứu văn hóa, ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

TS. Trần Hữu Sơn: Vấn đề này rất phức tạp và đã xuất hiện từ lâu, nhưng trong quá trình đô thị hóa hiện nay lại càng phát triển mạnh mẽ. Trước đây, tri thức kiến trúc dân gian của đồng bào rất độc đáo: người Thái có nhà sàn mái mui rùa gắn với những sự tích rất hay; người Mông có rào đá; người Hà Nhì, người Tày có những ngôi nhà trình tường kiên cố, đậm đà bản sắc. Thế nhưng hiện nay, khi tôi hướng dẫn học trò đi thực địa ở một số tỉnh, các em phản ánh là có nơi gần như không còn tìm thấy những ngôi nhà truyền thống như thế nữa.

Kiến trúc nông thôn vùng cao đang bị bê tông hóa đồng loạt. Người dân xây dựng các kiểu nhà mới như nhà cấp 4, nhà tầng theo xu hướng miền xuôi. Việc kinh tế phát triển, người dân xây nhà tầng là điều tất yếu. Nhưng có những nơi, nhà văn hóa cộng đồng, nhà văn hóa xã đều lấy mô hình nhà văn hóa kiểu như người Kinh, hoặc là nhà cấp 4, hoặc là nhà tầng để làm nhà văn hóa, chứ không có kiến trúc mang tính dân tộc. Cái sai là ở chỗ là những vùng dân tộc thì công trình văn hóa lại không phải tính dân tộc. Tất nhiên có một số vùng thì có những kiến trúc sư rất tâm huyết làm. Tôi biết một kiến trúc sư từng được giải thưởng quốc tế đã làm nhà du lịch cộng đồng ở thôn Nặm Đăm, Bắc Quang, Tuyên Quang.  Đó là thôn của người Dao nên ông ấy sử dụng cái nhà trình tường. Có một số nhà như thế, còn lại nhiều nhà cấp 4, không có dấu vết, kiến trúc vùng miền của người dân.

Bê tông hóa và nguy cơ mai một "tính dân tộc" trong kiến trúc vùng cao

PV:Tiến sĩ đánh giá ra sao về thực trạng nguy cơ đánh mất không gian kiến trúc truyền thống dân tộc?

TS. Trần Hữu Sơn: Trong văn hóa có mảng văn hóa vật chất, bao gồm: ăn, ở, mặc. Hiện nay cái ăn đã biến đổi, còn cái ở - tức là ngôi nhà - cũng đang bị biến đổi dần. Đến một làng của người Tày mà tôi tưởng là làng người Kinh; đến làng người Mông không còn thấy rào đá; làng người Hà Nhì từng toàn là nhà trình tường tuyệt đẹp nay cũng không còn khi định làm du lịch cộng đồng. Điều này cực kỳ nguy cấp. Cần phải sử dụng chính xác thuật ngữ chuyên môn là "tính dân tộc trong kiến trúc". Một khi kiến trúc đã mất đi tính dân tộc thì xem như kiến trúc đó không còn tồn tại.

Nhìn ra thế giới, các quốc gia như Pháp, Nhật Bản hay Trung Quốc đều có hệ thống pháp luật rất nghiêm ngặt. Tôi đi các nước khác, đến một làng người Pháp, truyền thống người ta vẫn giữ được như thế. Các làng truyền thống giữ nguyên khuôn viên và hàng rào cổ; công trình từ thế kỷ 18, 19 ở vùng lõi được bảo tồn tuyệt đối, nhà cao tầng phải xây dựng ở xa. Đến nhà Trưởng thôn của họ, dù làm nhỏ nhưng kiến trúc rất đẹp và giữ nguyên bản sắc như trong truyện cổ tích. Các làng du lịch ở Trung Quốc cũng thế. Nhật Bản làm rất hay. Người ta giữ được cả cái mái nhà cổ còn nguyên vẹn những vết tích thời gian.

Luật Kiến trúc sửa đổi: "Chiếc phanh" chiến lược giữ bản sắc dân tộc

PV:Thưa tiến sĩ, việc Quốc hội đưa Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc ra thảo luận tại nghị trường mang ý nghĩa chiến lược như thế nào?

TS. Trần Hữu Sơn: Trước hết, tôi thấy chủ trương đưa ra sửa Luật như đại biểu Quốc hội nói rất đúng. Như vậy mới đúng là Luật. Cái hay nữa khi áp dụng vào thực tiễn là ta thấy được rằng một khi khi kiến trúc mất đi bản sắc là sẽ không còn tính dân tộc. Đây được coi như cái “cái phanh” Quốc hội đã đưa ra. Và như thế mới đúng với xu hướng của thế giới bây giờ. Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa đã nhấn mạnh việc phát triển công nghiệp văn hóa phải dựa trên nền tảng đặc thù và truyền thống dân tộc. Chính vì vậy, càng hội nhập và phát triển, chúng ta càng phải giữ lấy bản sắc. Mất bản sắc dân tộc là coi như mất văn hóa. Chúng ta phải coi vấn đề này rất hệ trọng.

" Bản sắc dân tộc càng ngày càng phát triển chính là tài sản rất quý, là nguồn lực để phát triển bền vững chứ không phải là vật trang trí".

TS. Trần Hữu Sơn

PV: Kiến trúc truyền thống không chỉ là cái vỏ vật thể mà còn gắn liền với giá trị phi vật thể. Làm sao để lồng ghép cả hai yếu tố này vào quy hoạch mà không biến thành sự sao chép khiên cưỡng, áp đặt?

TS. Trần Hữu Sơn: Đối với người dân, văn hóa vật thể và phi vật thể trong ngôi nhà hòa quyện làm một. Bước vào ngôi nhà trình tường của người Hà Nhì, ta thấy sự ứng xử tài tình với tự nhiên: mái rộng để thoát nước mưa, tường trình rất dày để chống chọi với sương mù, cái nóng, cái rét vùng cao. Đặc biệt, không gian bên trong phân chia rõ ràng, thể hiện rõ bản sắc dân tộc: chỗ ngủ của chủ nhà, chỗ của vợ, con trai, con gái, không gian hát xướng và khu vực giường khách rất được coi trọng.

Các kiến trúc sư nước ta được giải thưởng quốc tế đều có ý tưởng hay và giữ được kiến trúc dân tộc. Do đó, muốn lồng ghép thành công, đội ngũ quản lý và quy hoạch xây dựng phải tự học và hiểu sâu sắc về kiến trúc bản địa. Phải coi bản sắc dân tộc trong kiến trúc là chìa khóa để phát triển, chứ không phải chỉ là trang trí cho đẹp.

Tôi lấy ví dụ, đến một làng người Mông hoặc làng người Tày, người Dao, làng du lịch. Cổng làng của người Mông có biểu tượng hai cái khèn. Hoặc là biểu tượng cái sừng trâu. Các biểu tượng mang tính dân tộc. Từ cổng làng đến trong nhà đều giữ được các dấu vết cổ truyền. Như vậy, khách du lịch mới đông. Ví dụ như đến Nghĩa Đô của Lào Cai, đến Lâm Bình, Bắc Quang của Tuyên Quang. Hoặc lên Đà Lạt, ta sẽ thấy trường học có kiến trúc của Tây Nguyên, mái nhà rông cách điệu ra sao, bệnh viện có kiến trúc vùng miền đặc trưng như thế nào.

Tóm lại, phải coi kiến trúc là nơi hàm chứa rất giàu tính dân tộc, bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc càng ngày càng phát triển chính là tài sản rất quý, là nguồn lực để phát triển bền vững chứ không phải là vật trang trí.

"Mỏ neo" pháp lý biến bản sắc thành nguồn lực phát triển bền vững

PV:Theo ông, để không dừng lại ở câu từ định hướng chung chung, Luật Kiến trúc sửa đổi cần những "mỏ neo" pháp lý cụ thể nào?

TS. Trần Hữu Sơn: Luật phải bao trùm toàn bộ quy trình từ khâu lập quy hoạch, xây dựng đến khi hoàn thành công trình. Phải tôn trọng những điểm sau:

Thứ nhất, tôn trọng ứng xử với thiên nhiên, môi trường. Phải đảm bảo không xung đột với môi trường, với thiên nhiên. Ví dụ, người dân tộc ở những vùng có nhiều rừng thì phải tôn trọng rừng. Có nhiều ruộng bậc thang thì phải tôn trọng ruộng bậc thang. Hay tôn trọng các hồ nước, sông suối.

Thứ hai, phải tôn trọng đặc trưng nhà ở. Đặc trưng của nhà cửa thể hiện ở khuôn viên nhà, không gian nội thất, nhất là không gian thiêng. Khi xây dựng bất kỳ một công trình nào dù nhỏ như nhà văn hóa thôn bản, hay to như sân vận động, cũng phải đề cao kiến trúc theo bản địa, kiến trúc của dân tộc. Chẳng hạn sắp tới đây, khi quy hoạch hai bên bờ sông Hồng thì nên tôn trọng biểu tượng của Sông Hồng. Từ quy hoạch, xây dựng, hoàn thành công trình, đều phải tôn trọng truyền thống văn hóa dân tộc.

Thứ ba là có thể sáng tạo, tái sáng tạo yếu tố truyền thống. Tuy nhiên, cần xác định tái sáng tạo đến đâu? Cái gì tái sáng tạo, còn cái gì phải bảo tồn? Loại hình gì được tái sáng tạo nhiều? Ví dụ như công trình công cộng lớn ta chỉ sáng tạo cái hồn của nó. Nhưng nhà dân, nhà văn hóa gắn với cộng đồng thôn bản thì phải là truyền thống của người dân. Nhà văn hóa của làng A, người Mông chẳng khác gì nhà của người Tày, lại càng giống nhà người Kinh thì không được. Nhưng sân vận động thì có thể khác. Tùy theo tính chất của mỗi loại kiến trúc ta có thể làm khác đi.

Bên cạnh đó, phải tạo dựng ý thức cho lớp trẻ tôn trọng truyền thống cha ông, giữ gìn kiến trúc của cha ông và coi như tài sản. Tài sản cha truyền con nối của tổ tiên để lại phải biết trân quý. Ở vùng người Kinh, tôi thấy rất nhiều lớp trẻ quan tâm tới văn hóa truyền thống, chú trọng truyền thống trong trong hội họa. Họ phục hồi được làng cổ, trang phục cổ. Tôi thấy rất hay. Phải làm sao tạo thành trào lưu thổi hồn dân tộc vào các công trình kiến trúc.

PV:Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ về cuộc trao đổi sâu sắc này!

Thực hiện: Yên Minh/VOV.VN

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Sáu, 11:15, 21/08/2026

VOV.VN trên Google News