/
--°C

BÀI 1: PHIM VIỆT THẮNG LỚN TRÊN SÂN NHÀ NHƯNG CUỘC CHƠI DÀI HẠN MỚI CHỈ BẮT ĐẦU

Tại Liên hoan phim châu Á Đà Nẵng, lần đầu tiên chương trình Vườn ươm dự án có thêm một xưởng kịch bản. Hơn 100 dự án được gửi về, 7 kịch bản được lựa chọn làm việc trực tiếp với các chuyên gia đến từ Đại học Columbia và Đại học New York. Qua quá trình tham vấn, các câu chuyện Việt được đánh giá là đa dạng, đậm bản sắc và giàu đề tài. Vấn đề còn lại là mài giũa cách kể và ngôn ngữ điện ảnh để tiếp cận khán giả rộng hơn.

Nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã đánh giá: “Nhiều phim đã mang lại doanh thu lớn, đồng thời cũng chạm đến đời sống đương đại mang dấu ấn hiện thực của xã hội Việt Nam hôm nay. Tuy nhiên, chưa thể nói rằng sự phát triển này đã đi cùng được với việc khai thác, quảng bá bản sắc văn hóa Việt. Do nhu cầu thu hồi vốn và có lãi rất chính đáng của các nhà đầu tư, đề tài mà các nhà làm phim hướng tới chủ yếu là những vấn đề của cuộc sống đương đại, đời thường… Hiếm hoi mới thấy trên màn ảnh bóng dáng một câu chuyện cổ xưa, hoặc cận đại với những trang phục và lối ứng xử truyền thống Việt Nam. Có thể nói, dấu ấn văn hóa bản địa trong các phim Việt vẫn là một khoảng trống cần lấp đầy”.

Khoảng trống ấy không có nghĩa điện ảnh chỉ có bản sắc khi quay về quá khứ. Một bộ phim về gia đình, đô thị, tình yêu, hay áp lực mưu sinh hoàn toàn có thể rất Việt Nam. Điều quyết định nằm ở điểm nhìn vào hiện thực, ở cách nhân vật lựa chọn và ứng xử trong bối cảnh xã hội cụ thể.

Đạo diễn Lê Đức Tiến cho rằng bản sắc đích thực không phải sự lắp ghép cơ học của trang phục, lễ hội hay những hủ tục kỳ bí. Nó nằm ở thế giới quan và chiều sâu thân phận của con người Việt Nam: tình nghĩa gia đình, lòng vị tha, sự nhẫn nại và cách con người bao dung đối diện với những vết thương lịch sử. Hiện thực của một Việt Nam thế kỷ XXI, với đô thị hóa, công nghệ và những va đập văn hóa toàn cầu, cũng là một nguồn bản sắc sống động.

Nhắc tới bản sắc trên màn ảnh, người ta dễ nghĩ tới áo quần truyền thống, kiến trúc, tiếng địa phương hoặc một bối cảnh đẹp. Những yếu tố ấy có giá trị, nhưng tự thân chúng chưa tạo nên “căn cước” của tác phẩm.

Nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã cho rằng bản sắc trước hết nằm ở nội dung được lựa chọn, chứ không bị quyết định bởi việc bộ phim sử dụng cách kể cổ điển hay hiện đại: “Thực ra tùy theo từng phim mà bối cảnh, ngôn ngữ, phong tục… có vai trò quyết định của nó. Nhưng chủ yếu là MỘT CÂU CHUYỆN, không phải cách kể. Chính là nội dung được chọn lựa để phản ánh mới nói lên mức độ giá trị văn hóa bản địa của bộ phim. Một phim muốn phản ánh giá trị của văn hóa bản địa hoàn toàn có thể có cách kể hiện đại, miễn là cách kể ấy đáp ứng được nội dung cần truyền tải. Chính là nội dung luôn quyết định thi pháp, cách kể, chứ không phải ngược lại”.

Quan điểm này giúp tách bản sắc khỏi nỗi lo hội nhập. Học hỏi cấu trúc, kỹ thuật hoặc ngôn ngữ của điện ảnh thế giới không đồng nghĩa đánh mất “căn cước”. Điều khiến một bộ phim nhạt nhòa bản sắc không phải vì nó sử dụng cách kể hiện đại, mà vì câu chuyện không có điểm nhìn đủ rõ vào đời sống và con người Việt Nam.

Một tác phẩm có thể đầy phục trang, biểu tượng và phong tục nhưng vẫn xa lạ với nền văn hóa mà nó muốn đại diện. Ngược lại, tính bản địa không nằm ở lớp vỏ bọc cổ kính bên ngoài, mà ẩn sâu trong căn tính, tâm lý và cách con người đối diện với đời sống hiện đại.

Vấn đề vì thế không phải lựa chọn giữa truyền thống và hiện đại. Người làm phim cần tìm một hình thức hiện đại đủ sức nâng đỡ nội dung, đồng thời giữ được những chi tiết khiến câu chuyện không thể bị nhầm với một tác phẩm đến từ nơi khác.

Có chất liệu chưa đồng nghĩa biết cách khai thác chất liệu. Càng đứng trước một kho tàng lớn, người làm phim càng cần khả năng lựa chọn: đâu là hạt nhân của câu chuyện; nhân vật nào sẽ gánh vác mạch sự kiện, truyền tải thông điệp, cảm xúc chính của tác phẩm và cách kể nào giúp câu chuyện đó sống được trên màn ảnh.

Nhà biên kịch Trịnh Thanh Nhã cho rằng không ít phim đã khai thác cổ tích hoặc giai thoại dân gian, nhưng vì muốn “kỳ hóa” câu chuyện để gây tò mò, hoặc vì ê-kíp chưa thấu hiểu bản chất nội dung, phim dễ rơi vào tình trạng nội dung và cách kể không tương thích.

Bà Trịnh Thanh Nhã nhấn mạnh: “Tôi cho rằng để khắc phục điều này, trước hết người biên kịch và đạo diễn cần có một kiến thức nền đủ sâu và rộng về văn hóa dân tộc, về triết lý của dân tộc phản ánh trong nội dung định khai thác. Đặc biệt, nhiều người tin rằng khai thác văn hóa cổ, dân gian không cần quan tâm đến tâm lý học hiện đại hoặc kiến thức lịch sử mang tính hệ thống. Không có những kiến thức này, người làm phim thực tế giống người tự bịt mắt mò mẫm trong bóng tối, mơ hồ thấy ánh sáng đó mà hóa ra chỉ là ảo giác. Trong sáng tác nghệ thuật, đặc biệt với điện ảnh, tri thức nền và sự tỉnh táo lý trí là điều kiện cần có để chọn lấy cái duy nhất đúng cho câu chuyện của mình trong kho tàng chất liệu mênh mông”.

Một dự án khai thác lịch sử, di sản hay văn hóa bản địa không thể chỉ bắt đầu bằng vài hình ảnh hấp dẫn. Phía sau kịch bản cần có tri thức về bối cảnh, con người, tâm lý, mỹ thuật, ngôn ngữ và hệ giá trị đã tạo nên câu chuyện.

Tuy nhiên, cũng không thể để từng biên kịch, từng đạo diễn tự mò mẫm trong một biển tư liệu phân tán. PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng cần đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu văn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản, lịch sử, trang phục, mỹ thuật, ngôn ngữ và tri thức bản địa để hỗ trợ sáng tạo. Đồng thời, điện ảnh cần hình thành các tài sản trí tuệ mang đậm bản sắc Việt Nam nhưng có khả năng phát triển thành nhiều sản phẩm trên các nền tảng khác nhau.

Đây là bước chuyển từ “có tài nguyên” sang “tạo tài sản”. Khi được nghiên cứu và chuyển hóa thành nhân vật, thế giới truyện và tài sản trí tuệ (IP), văn hóa có thể kéo dài vòng đời của câu chuyện, tạo giá trị vượt ra ngoài một mùa chiếu.

Đây cũng là điểm gặp giữa bản sắc và tư duy công nghiệp. Nghị quyết 80-NQ/TW thúc đẩy chuyển hóa di sản, bản sắc và sáng tạo thành sản phẩm, dịch vụ văn hóa có giá trị kinh tế cao, đưa ngành công nghiệp văn hóa thành trụ cột phát triển đất nước. Với điện ảnh, điều đó đòi hỏi tri thức văn hóa phải đi vào kịch bản, dữ liệu phải hỗ trợ sáng tạo và những thế giới truyện có tiềm năng cần được phát triển như tài sản trí tuệ, thay vì kết thúc sau một mùa chiếu.

Cảnh trong phim "Chị chị em em 3"

Một rào cản khác là thói quen đặt giá trị văn hóa và hiệu quả thương mại ở hai phía đối lập: phim giàu bản sắc thường bị mặc định là khó xem, còn phim hướng tới số đông dễ bị nghi ngờ là thiếu chiều sâu.

“Tôi không nghĩ việc gìn giữ bản sắc văn hóa và yếu tố thương mại là hai mặt đối lập. Theo tôi, đó không phải là hai thái cực không thể cùng tồn tại trong một tác phẩm. Nhìn vào thành công của ‘Địa đạo’ hay ‘Mưa đỏ’ thời gian qua, có thể thấy những bộ phim này vừa đạt doanh thu tốt, có độ phủ rộng với khán giả, vừa bảo đảm chất lượng nghệ thuật và thẩm mỹ. Điều đó cho thấy không thể đặt yếu tố thương mại và yếu tố văn hóa ở hai phía đối lập”, Nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc cho biết.

Một tác phẩm chỉ tạo được giá trị khi tìm được người xem. Nhưng tiếp cận số đông không đồng nghĩa giản lược văn hóa thành những dấu hiệu dễ nhận biết nhất. Khán giả hiện nay có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền điện ảnh và đủ khả năng nhận ra sự trân trọng cũng như sự hời hợt trong cách một bộ phim sử dụng chất liệu bản địa.

Theo nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc, trách nhiệm của người làm phim là để tiếng nói và thẩm mỹ của mình hiện diện trong cách kể; khi hiểu và yêu văn hóa Việt Nam, sự kết nối với câu chuyện sẽ trở nên tự nhiên hơn. Đồng thời, người làm nghề phải cởi mở với công nghệ và xu hướng của điện ảnh thế giới, bởi điện ảnh Việt không thể tách khỏi hệ sinh thái chung.

Thị trường không phải đối thủ của bản sắc. Ngược lại, một câu chuyện có “căn cước” rõ ràng thường tạo ra lý do để khán giả lựa chọn nó giữa vô số sản phẩm giải trí. Nhưng bản sắc chỉ trở thành lợi thế khi được nâng đỡ bằng kịch bản tốt, nhân vật thuyết phục, ngôn ngữ điện ảnh hiện đại và sự hiểu biết thực sự về chất liệu được sử dụng.

Điện ảnh Việt không cần cố kể giống một nền điện ảnh đã thành công. Điều ngành cần là khả năng đưa những điều chỉ Việt Nam có vào những hình thức đủ hấp dẫn để khán giả trong nước muốn xem và khán giả quốc tế có thể đồng cảm. Khi ấy, bản sắc không phải là một món đồ trang trí, mà thực sự là giá trị cốt lõi của thương hiệu điện ảnh.

Nghị quyết 80-NQ/TW mở ra khát vọng đưa văn hóa thành sức mạnh nội sinh và sức mạnh mềm. Đối với điện ảnh, con đường ấy bắt đầu từ những lựa chọn rất cụ thể của người sáng tạo: hiểu sâu câu chuyện mình kể, tôn trọng đời sống văn hóa đã nuôi dưỡng nó và đủ bản lĩnh để biến chất liệu bản địa thành một tác phẩm có ngôn ngữ đương đại.


Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Bảy, 08:00, 15/08/2026

VOV.VN trên Google News