


Trước đây, nhắc đến công nghệ điện ảnh, người ta thường nghĩ tới máy quay, kỹ xảo hoặc trường quay quy mô lớn. Hiện nay, AI có thể xuất hiện từ lúc câu chuyện còn nằm trên trang giấy cho tới khi tác phẩm tìm đường đến khán giả.
Ông Đặng Trần Cường, Cục trưởng Cục Điện ảnh, nhận định: “Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), tôi cho rằng AI hiện nay gần như có thể tham gia vào tất cả các khâu của lĩnh vực điện ảnh. AI có thể hỗ trợ từ quá trình sáng tạo, xây dựng kịch bản, sản xuất cho đến phổ biến và phát hành phim”.
Với điện ảnh Việt Nam, công nghệ có thể mở lối cho những dự án trước đây quá tốn kém hoặc khó triển khai, nhất là các dòng phim cần bối cảnh lớn, đông diễn viên và nguồn lực sản xuất đáng kể.

Ông Đặng Trần Cường kỳ vọng AI sẽ mở ra nhiều cơ hội đối với những dòng phim vốn rất khó thực hiện trước đây, đặc biệt là phim về đề tài lịch sử, cách mạng và chiến tranh. Trước đây, các nhà sản xuất thường rất e ngại khi thực hiện những bộ phim này vì việc huy động số lượng lớn diễn viên, bối cảnh và nguồn lực là vô cùng khó khăn, kéo theo chi phí rất lớn.
AI vì thế có thể trở thành công cụ mở rộng giới hạn sản xuất. Những dự án từng bị xem là quá sức vì chi phí hoặc quy mô tổ chức có thêm cơ hội được tính toán trong một điều kiện mới. Tuy nhiên, khả năng của công nghệ không đồng nghĩa mọi khâu sáng tạo đều có thể chuyển giao cho máy.

Điện ảnh không phải phép cộng của các thao tác kỹ thuật. Một bộ phim còn là kết quả của trải nghiệm sống, lựa chọn thẩm mỹ, sự thấu hiểu văn hóa và khả năng phối hợp của cả tập thể.
Dù AI có thể hỗ trợ viết kịch bản hay làm nhạc, điện ảnh vẫn là sự kết nối của những con người cùng chia sẻ một tầm nhìn. Công nghệ có thể hỗ trợ, nhưng không tự chịu trách nhiệm về câu chuyện được kể, hình ảnh được sử dụng hoặc hệ quả văn hóa của sản phẩm. Công nghệ càng đi sâu vào sáng tạo, ranh giới giữa việc của máy và trách nhiệm của con người càng cần rõ ràng.

Ông Đặng Trần Cường bày tỏ: “Về giải pháp, tôi cho rằng dù khoa học công nghệ có phát triển đến đâu thì vẫn phải lấy con người làm trung tâm. Như Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng từng chia sẻ trong khuôn khổ một diễn đàn về điện ảnh, ở giai đoạn đầu chúng ta cần xem AI có thể hỗ trợ những gì trong lĩnh vực này. Sang giai đoạn tiếp theo, chúng ta phải xác định nên giao những công việc nào cho AI và những công việc nào con người cần trực tiếp đảm nhiệm”.
Đi cùng với sự phân công ấy là yêu cầu minh bạch. Theo ông Cường, đơn vị sản xuất cần có cơ chế dán nhãn hoặc công khai nội dung sử dụng AI; đồng thời phải xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ quyền sáng tạo của con người và xác định rõ nội dung do AI tạo ra.
Khi AI can dự vào kịch bản, hình ảnh, âm nhạc và nhiều thành tố cấu thành tác phẩm, các quyền và trách nhiệm phải được xác lập từ đầu. Ai sở hữu đầu ra, dữ liệu nào đã được dùng, quyền của biên kịch, đạo diễn, diễn viên và kỹ thuật viên được bảo vệ ra sao - đó không còn là câu chuyện của tương lai xa.
Minh bạch không nhằm cản trở sáng tạo, mà giúp thị trường và công chúng biết một tác phẩm được tạo ra như thế nào, đồng thời bảo vệ vai trò của lao động sáng tạo trong một môi trường kỹ thuật ngày càng phức tạp.

Ở đầu ra, streaming, mạng xã hội và hệ sinh thái video số đang mở thêm không gian phát hành cho phim Việt. Một số tác phẩm từng bước tiếp cận thị trường quốc tế qua Netflix, YouTube; nhiều nội dung hình ảnh văn hóa Việt Nam lan truyền nhanh trên TikTok, Facebook và các nền tảng video ngắn.
Đây là cơ hội đáng kể với một nền điện ảnh mà khả năng phát hành tại thị trường nước ngoài còn hạn chế. Phim không còn kết thúc vòng đời ngay khi rời rạp. Tuy nhiên, “có mặt” chưa đồng nghĩa “có vị thế”. Một nội dung có thể lan truyền mạnh trong vài ngày rồi nhanh chóng bị thay thế bởi dòng chảy mới.
Hình ảnh văn hóa Việt Nam trên môi trường số được cho là vẫn phân tán, thiếu tính kết nối và chưa hình thành được một hệ sinh thái dữ liệu có khả năng duy trì sự hiện diện dài hạn. Nhiều sản phẩm sau khi lan truyền chưa tạo được khả năng ghi nhớ và tái lưu thông đủ mạnh để hình thành ảnh hưởng văn hóa bền vững.

Bài toán vì thế không chỉ là đưa thêm phim lên mạng. Điều quan trọng hơn là Việt Nam có làm chủ được dữ liệu hình ảnh, quyền biểu đạt, quyền khai thác và khả năng đưa những dữ liệu ấy quay trở lại đời sống sáng tạo hay không.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam đề xuất từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu điện ảnh, dữ liệu di sản và các kho hình ảnh số có khả năng lưu trữ, kết nối và tái lưu thông. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế bảo vệ tài sản trí tuệ đối với dữ liệu huấn luyện AI, dữ liệu hình ảnh và nội dung do AI tạo ra; thiết lập nguyên tắc kiểm soát việc khai thác, trích xuất và tái sử dụng dữ liệu văn hóa.
Nếu được tổ chức và cấp quyền hợp lý, dữ liệu văn hóa không chỉ phục vụ bảo tồn. Nó có thể trở thành hạ tầng của công nghiệp điện ảnh, giúp người làm phim tiếp cận tư liệu, phát triển tác phẩm mới và tạo ra những tài sản trí tuệ có vòng đời dài hơn.

Công nghệ giúp phim đi nhanh hơn, nhưng cũng khiến bản phim bị sao chép và phát tán dễ dàng hơn. Với nhà sản xuất, nỗi lo vi phạm bản quyền bắt đầu ngay khi tác phẩm còn đang chiếu.
Nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc chia sẻ: “Cá nhân tôi, với vai trò là một nhà sản xuất, mỗi lần phim phát hành đều rất lo lắng. Điều khiến tôi băn khoăn nhất chính là vấn đề bản quyền. Tôi nghĩ đây cũng là nỗi lo chung của các nhà sản xuất, các công ty sản xuất và các đạo diễn. Theo tôi, điều đầu tiên cần có là ý thức về bản quyền, ý thức trong việc sử dụng các tài sản số trên không gian mạng và ý thức bảo vệ những tác phẩm được tạo nên từ rất nhiều công sức, nguồn lực và tiền bạc của cả một tập thể. Thứ hai là phải tôn trọng pháp luật. Thứ ba là cần có những chế tài đủ sức răn đe để ngăn chặn và chấm dứt các hành vi xâm phạm bản quyền”.

Bản quyền không chỉ là câu chuyện đạo đức. Nó liên quan trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn và tái đầu tư. Khi phim còn đang chiếu nhưng bản lậu đã xuất hiện, thiệt hại không dừng ở doanh thu của một dự án mà còn làm suy yếu động lực của cả chuỗi sản xuất. Đưa phim lên nền tảng quốc tế cũng không xóa đi áp lực ấy. Trước một đề nghị phát hành trực tuyến, câu hỏi đầu tiên của nhà sản xuất không chỉ là thị trường hay doanh thu, mà còn là bản phim sẽ được bảo vệ thế nào.
“Mỗi khi có đơn vị muốn phát hành phim, điều đầu tiên tôi hỏi là họ sẽ bảo vệ tác phẩm của chúng tôi như thế nào trên không gian mạng, có những giải pháp gì để bảo đảm bản phim không bị phát tán trái phép. Các đối tác cũng cho chúng tôi xem những giải pháp kỹ thuật để bảo vệ phim và tôi thấy họ làm khá tốt, giúp việc phát hành trên nền tảng số an toàn hơn”, bà Ngọc nói.
Ý thức của người dùng là nền tảng, nhưng không thể thay thế pháp luật, chế tài và giải pháp kỹ thuật. Chỉ khi quyền lợi của người sáng tạo và nhà đầu tư được bảo đảm, môi trường số mới thực sự trở thành thị trường, thay vì chỉ là nơi nội dung được lan truyền còn nguồn thu bị thất thoát.
Bản quyền vì thế không phải lớp bảo vệ được bổ sung sau khi bộ phim hoàn thành. Nó phải được tính từ hợp đồng, quy trình sản xuất, lưu trữ bản phim đến lựa chọn đối tác và phương thức phát hành. Khi quyền sở hữu và trách nhiệm không rõ, công nghệ càng mạnh thì rủi ro thất thoát càng lớn. AI có thể giúp điện ảnh Việt thực hiện những điều trước đây quá tốn kém; nền tảng số có thể đưa tác phẩm đến khán giả mới; dữ liệu có thể kéo dài vòng đời của hình ảnh văn hóa. Nhưng các công cụ ấy chỉ trở thành lợi thế khi người làm phim giữ được quyền sáng tạo, Việt Nam giữ được quyền kiểm soát dữ liệu, còn nhà sản xuất giữ được bản quyền phim và nguồn thu.
Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s