/
--°C

Thị trường nội địa tăng trưởng đang tạo cho điện ảnh Việt một bệ phóng thuận lợi. Nhưng từ một bộ phim được yêu thích trong nước đến một tác phẩm có thể tạo dấu ấn, tìm được đối tác và phát hành tại nhiều quốc gia vẫn là khoảng cách lớn. Khát vọng tầm vóc quốc tế theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW không thể được thực hiện bằng những chuyến đi riêng lẻ. Nó đòi hỏi tác phẩm đủ mạnh, một hệ thống đưa đường và chiến lược xây dựng thương hiệu được theo đuổi qua nhiều năm.

Điện ảnh Việt đang có một lợi thế quan trọng: khán giả trở lại rạp, phim nội đạt doanh thu cao và ngày càng có sức cạnh tranh rõ hơn với tác phẩm nước ngoài. Một thị trường nội địa mạnh giúp nhà sản xuất thu hồi vốn, duy trì đội ngũ và tiếp tục đầu tư; thành công tại sân nhà cũng tạo ra sự chú ý ban đầu từ các đối tác quốc tế.

Nhưng quy mô thị trường chưa tự động tạo ra năng lực xuất khẩu. Phần lớn phim Việt vẫn được thiết kế chủ yếu cho người xem trong nước. Khi nguồn lực tập trung vào doanh thu và những thời điểm phát hành thuận lợi, chiến lược vươn ra bên ngoài dễ bị xem là câu chuyện của giai đoạn sau.

Đạo diễn Đặng Thái Huyền cùng dàn diễn viên phim "Mưa đỏ" tại Tuần lễ điện ảnh Việt Nam – Hành trình ánh sáng được tổ chức ở Pháp
Trình chiếu trong lễ bế mạc Tuần lễ điện ảnh Việt Nam – Hành trình ánh sáng được tổ chức ở Pháp, phim "Mưa đỏ" gây ấn tượng với khán giả.

Nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc cho rằng thành công hiện tại chỉ có ý nghĩa khi ngành duy trì được chất lượng và tạo ra những câu chuyện không chỉ chinh phục khán giả trong nước mà còn có khả năng phát hành quốc tế. Đây là bước tiếp theo, đồng thời là thử thách lớn của điện ảnh nội địa.

Một bộ phim có thể thắng ở Việt Nam nhờ câu chuyện gần gũi, diễn viên được yêu thích hoặc thời điểm ra mắt thuận lợi. Khi sang thị trường khác, tác phẩm phải cạnh tranh với thói quen thưởng thức, tiêu chuẩn chuyên môn và hệ thống phân phối mới. Thành công trong nước vì thế là bệ phóng, không phải tấm vé bảo đảm.

Thị trường nội địa vì thế vừa là nơi kiểm chứng tác phẩm, vừa là nguồn lực để ngành đầu tư cho bước tiếp theo. Nhưng nếu mọi tính toán kết thúc ở doanh thu trong nước, thành công phòng vé khó chuyển thành năng lực xuất khẩu và sự hiện diện dài hạn của điện ảnh Việt trên bản đồ quốc tế.

“Đưa điện ảnh Việt Nam ra quốc tế” là khái niệm thường được sử dụng khá rộng. Một bộ phim xuất hiện trong tuần văn hóa, được giới thiệu tại hoạt động bên lề, được tuyển chọn vào hạng mục chính thức của liên hoan phim hoặc phát hành thương mại tại nước ngoài liệu có thể được xem là đã “ra thế giới”?

Tiến sĩ Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến và Phát triển điện ảnh Việt Nam, phân chia quá trình này thành ba cấp độ.

Cấp độ đầu tiên là các tuần văn hóa hoặc ngày phim Việt Nam ở nước ngoài. Đây là kênh quảng bá đất nước và con người Việt Nam, nhưng phạm vi tiếp cận thường hẹp và khán giả chưa chắc thuộc giới điện ảnh chuyên nghiệp.

Cấp độ thứ hai là tham gia các liên hoan phim quốc tế, nơi tác phẩm có cơ hội gặp giới phê bình, nhà sản xuất, nhà phát hành và truyền thông. Tuy nhiên, quyền lựa chọn thuộc về ban tuyển chọn với tiêu chí và định hướng nghệ thuật riêng.

Cấp độ thứ ba, cũng là nấc thang khó nhất, là đưa phim vào hệ thống rạp quốc tế. Lúc này, tác phẩm phải cạnh tranh thực sự về nội dung, chất lượng sản xuất, quảng bá và khả năng thu hút người xem.

Ba cấp độ bổ sung cho nhau: tuần phim tạo sự nhận biết; liên hoan phim xây dựng uy tín nghề nghiệp và mở rộng quan hệ; phát hành thương mại đưa tác phẩm vào đời sống của một thị trường mới. Điểm yếu hiện nay không phải Việt Nam chưa có hoạt động ở từng cấp độ, mà là những hoạt động ấy còn rời rạc, chưa tạo thành một lộ trình liên tục.

Theo Tiến sĩ Ngô Phương Lan, Việt Nam đã tham gia nhiều liên hoan phim quốc tế nhưng số tác phẩm được lựa chọn vào các hạng mục chính thức còn ít. Giữa việc có mặt tại hoạt động bên lề và được hội đồng chuyên môn tuyển chọn vẫn tồn tại khoảng cách lớn.

“Nếu chỉ tham gia mà không có những tác phẩm nổi bật, chúng ta sẽ khó có thể tạo ra hiệu quả cụ thể. Vì vậy, việc đầu tư vào những bộ phim có giá trị nghệ thuật cao là vô cùng quan trọng. Những tác phẩm này cần có cơ hội lọt vào các liên hoan phim quốc tế và được giới thiệu tại các sự kiện bên lề. Đồng thời, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ, và các nhà làm phim, hãng phim, công ty sản xuất phim tại Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ hơn để đưa các tác phẩm ra thế giới”, Tiến sĩ Ngô Phương Lan nhận định.

Chất lượng tác phẩm là điều kiện đầu tiên, nhưng chưa đủ. Một bộ phim hay không tự tìm được nhà phát hành, không tự bước vào hệ thống rạp nước ngoài và cũng không tự biến sự chú ý tại liên hoan phim thành hợp đồng thương mại.

Ông Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc nội dung CJ CGV Việt Nam, cho rằng: “Để từng bước vươn ra quốc tế, điện ảnh Việt cần tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài trong sản xuất và phát hành, tích cực tham gia các liên hoan phim quốc tế, đồng thời xây dựng thương hiệu cho những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và thương mại. Việc đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực, phát hiện và hỗ trợ các tài năng trẻ cũng là yếu tố quan trọng để tạo ra những thế hệ nhà làm phim có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu”.

Khoảng cách từ một tác phẩm tốt đến một bộ phim được quốc tế đón nhận không chỉ nằm ở nghệ thuật. Phim còn cần được định vị, tiếp thị và kết nối với đúng đối tác. Để sự chú ý tại liên hoan phim chuyển thành hợp tác sản xuất, bán bản quyền hoặc phát hành thương mại, dự án cần có người đại diện theo đuổi cơ hội, hồ sơ giới thiệu chuyên nghiệp và chiến lược phù hợp với từng thị trường.

Xây dựng thương hiệu tác phẩm cũng phải bắt đầu từ quá trình sản xuất và phát hành: xác định giá trị khác biệt, nhóm khán giả hướng tới và khả năng khai thác ở các thị trường, nền tảng khác nhau.

Điện ảnh Việt không thiếu chất liệu. Điều cần thiết là hình thành một dòng tác phẩm đủ mạnh và xuất hiện đủ đều để đối tác quốc tế nhận thấy Việt Nam không chỉ có một bộ phim đáng chú ý trong một thời điểm, mà đang sở hữu một năng lực sáng tạo và một căn cước điện ảnh có thể được nhận diện.

Liên hoan phim là cửa ngõ để tác phẩm gặp giới chuyên môn và các đối tác quốc tế. Nhưng nếu hành trình kết thúc sau một buổi trình chiếu hoặc lễ trao giải, giá trị mà sự kiện tạo ra vẫn còn giới hạn.

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng: “Muốn mở rộng thị trường và nâng cao vị thế của điện ảnh Việt Nam, trước hết phải tạo được những điểm kết nối đủ mạnh để điện ảnh Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới điện ảnh khu vực và quốc tế. Liên hoan phim không chỉ là nơi trình chiếu và tôn vinh tác phẩm, mà cần trở thành không gian kết nối dự án, tài năng, nhà sản xuất, nhà đầu tư và các đối tác phát hành”.

Theo cách tiếp cận này, liên hoan phim không chỉ tiếp nhận tác phẩm đã hoàn thành. Nó còn phải là nơi dự án gặp nhà sản xuất, người làm phim trẻ gặp cố vấn, tác phẩm gặp đại diện bán phim và doanh nghiệp tìm thấy đối tác. Giá trị quan trọng nhất không chỉ nằm ở buổi chiếu, mà ở những cơ hội tiếp tục được mở ra sau sự kiện.

Hiệu quả của liên hoan phim vì thế không chỉ được đo bằng số khách mời, số buổi chiếu hay độ sôi động của thảm đỏ. Những kết quả quan trọng hơn nằm ở số dự án tìm được nguồn lực, số cuộc gặp dẫn tới hợp tác và số bộ phim tiếp tục được lưu thông.

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng cần chuyển từ tư duy “đưa phim đi dự liên hoan” sang chủ động xây dựng các nền tảng kết nối và lưu thông quốc tế, đủ sức thu hút dự án hợp tác và nguồn lực sáng tạo.

Không nền điện ảnh nào tạo dựng được vị thế quốc tế chỉ trong một vài mùa phim. Một tác phẩm có thể bất ngờ gây tiếng vang, nhưng thương hiệu chỉ hình thành khi thị trường liên tục nhận ra chất lượng, “căn cước” và năng lực tổ chức đứng phía sau nhiều tác phẩm.

Nhà sản xuất Trần Thị Bích Ngọc nhắc đến kinh nghiệm của GDH 559, hãng phim Thái Lan đứng sau các tác phẩm như “Bad Genius” và “How to Make Millions Before Grandma Dies”. Theo bà, thành quả mà hãng có được hôm nay nằm trong một lộ trình đã được chuẩn bị từ nhiều năm trước.

“Qua chia sẻ của họ, tôi nhận thấy những công ty sản xuất hàng đầu, những nhà sản xuất có tầm nhìn đều xây dựng một lộ trình phát triển rất rõ ràng từ rất sớm. Chẳng hạn, điện ảnh Thái Lan cũng từng trải qua giai đoạn nổi bật với phim kinh dị, phim ma. Nhưng ngay từ thời điểm đó, họ đã hướng đến mục tiêu đưa phim ra thị trường quốc tế. Những thành quả mà chúng ta nhìn thấy hôm nay của GDH thực chất đã nằm trong kế hoạch phát triển từ khoảng 20 năm trước”, bà Ngọc chia sẻ.

Bài học không nằm ở việc sao chép dòng phim hay mô hình của một nền điện ảnh khác, mà ở khả năng xác định đích đến dài hạn và kiên trì tích lũy năng lực.

Tiến sĩ Ngô Phương Lan cũng cho rằng Việt Nam cần một chiến lược tập trung, có mục tiêu dài hạn và sự phối hợp giữa khu vực công với tư nhân. Nhà nước có thể hỗ trợ quảng bá, mở rộng quan hệ văn hóa và tạo hành lang chính sách; nhưng tác phẩm vẫn phải được hình thành từ năng lực sáng tạo, đầu tư và tổ chức thị trường của các hãng phim, nhà làm phim và doanh nghiệp phát hành.

Thương hiệu điện ảnh quốc gia không được tạo nên bởi một bộ phim nổi bật, cũng không được tạo nên chỉ bằng số lần xuất hiện tại các sự kiện quốc tế. Nó được xây bằng khả năng liên tục đưa ra những tác phẩm có chất lượng và căn cước đủ rõ, đồng thời tạo được niềm tin với khán giả, giới chuyên môn và đối tác thị trường.

Điện ảnh Việt đã có thị trường nội địa, nguồn câu chuyện và một thế hệ làm phim có nhu cầu hội nhập. Điều còn thiếu là một lộ trình đủ rõ, được phối hợp giữa khu vực công và tư và kiên trì thực hiện qua nhiều năm.

Từ Nghị quyết 80-NQ/TW đến khát vọng tầm vóc quốc tế là một hành trình dài: biến nguồn lực văn hóa thành tác phẩm, biến tác phẩm thành tài sản, biến sự hiện diện thành quan hệ nghề nghiệp và biến quan hệ ấy thành thị trường. Chỉ khi các bước được kết nối, phim Việt mới không chỉ “đi ra nước ngoài”, mà thực sự tham gia vào dòng chảy của điện ảnh khu vực và thế giới với một thương hiệu có thể được nhận diện.


Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Ba, 06:00, 18/08/2026

VOV.VN trên Google News