/
--°C

Nghị quyết 57-NQ/TW đã mở ra một hành lang chiến lược đột phá, hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, dữ liệu, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thực tiễn từ khu vực công đến khối doanh nghiệp nhà nước cho thấy, công nghệ chưa bao giờ là rào cản lớn nhất. Điều đáng lo hơn nằm ở những “sợi dây buộc” về thể chế, quy trình đầu tư cồng kềnh, cách thức quản trị chưa theo kịp tốc độ công nghệ và tâm lý e dè trước những cái mới.

Nếu công nghệ có thể thay đổi từng ngày, từng giờ thì một dự án, một quy trình đầu tư hay một quyết định quản lý có thể mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để hoàn tất. Khoảng cách đó đang tạo ra một nghịch lý là khi giải pháp được phê duyệt và đưa vào vận hành, công nghệ đã có thể đã thay đổi.

Nhìn từ thực tiễn triển khai, các chuyên gia, nhà quản lý tập trung vào ba nhóm điểm nghẽn lớn: thể chế, cơ chế tài chính và quy trình đầu tư; tư duy quản trị, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu; cùng với khả năng kết nối hạ tầng, dữ liệu và tổ chức thực thi.

Trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu tăng trưởng cao và tinh thần đột phá của Nghị quyết 57-NQ/TW, khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được kỳ vọng phát huy vai trò tiên phong, mở đường trong ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, khi đi vào thực tế triển khai, chính các DNNN lại gặp không ít vướng mắc bởi những vướng mắc về cơ chế tài chính, quy trình đầu tư và các thủ tục liên quan.

Điểm nghẽn ở đây không đơn thuần là thiếu nguồn lực, mà nằm ở cách thức sử dụng và ra quyết định đối với nguồn lực. Trong lĩnh vực công nghệ, tốc độ thay đổi rất nhanh khiến một quy trình đầu tư kéo dài có thể làm giảm đáng kể giá trị của chính khoản đầu tư đó.

Phân tích trực diện vào nút thắt này, ông Chử Đức Hoàng, Chánh Văn phòng Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) chỉ rõ: "DNNN giữ vai trò trụ cột nhưng khả năng cạnh tranh lại đang phụ thuộc vào việc làm chủ công nghệ lõi. Điểm nghẽn lớn nhất của DNNN nằm ở thể chế tài chính và quy trình thẩm định cồng kềnh. Cần trao quyền tự chủ tài chính thực chất cho DNNN theo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Đồng thời, phải đơn giản hóa thủ tục đầu tư công nghệ, rút ngắn thời gian phê duyệt dự án KHCN từ 90 ngày xuống 30 ngày, giao KPI rõ ràng đo lường bằng kết quả thay vì chỉ quản lý quy trình đầu vào".

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Khắc Trung, Trưởng ban Ngân hàng số Agribank chia sẻ từ thực tế vận hành: "Đặc trưng chung của các DNNN là phụ thuộc lớn vào hành lang quy định, thông tư nên việc đầu tư các dự án chuyển đổi số mất rất nhiều thời gian. Thực tế có những giải pháp từ lúc đặt vấn đề đến khi triển khai thực hiện đã thấy lỗi thời, từ lý thuyết đến thực tế rất lâu".

Đây cũng là khoảng cách mà cơ quan quản lý chuyển đổi số phải đối mặt, làm thế nào để cơ chế quản lý đủ chặt chẽ để kiểm soát rủi ro nhưng đồng thời đủ linh hoạt để không trở thành lực cản đối với những công nghệ và mô hình kinh doanh mới.

Về phía cơ quan quản lý chuyển đổi số quốc gia, ThS Đặng Tùng Anh,  Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ - Chính phủ số, Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế: "Chúng ta đã bước vào kỷ nguyên của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nơi công nghệ thay đổi hàng ngày, hàng giờ. Nghị quyết 57 ra đời chính là để gỡ “điểm nghẽn” về thể chế cho KHCN và chuyển đổi số. Nếu giữ nguyên tư duy quản lý thủ tục hành chính cũ, chúng ta sẽ không thể tạo ra khoảng không gian linh hoạt cho các mô hình công nghệ mới phát triển”.

Như vậy, bài toán đặt ra không phải là bỏ qua quy trình hay nới lỏng kiểm soát, mà là thiết kế một quy trình phù hợp hơn với đặc thù của công nghệ. Khi tốc độ đổi mới đã trở thành yếu tố cạnh tranh, một cơ chế quá chậm cũng có thể trở thành một dạng rủi ro.

Nếu thể chế là “khung xương” thì nhân tố con người, đặc biệt là tư duy của người đứng đầu, chính là yếu tố quyết định cách bộ máy vận hành. Chuyển đổi số không chỉ là đưa thêm một phần mềm vào sử dụng hay số hóa một quy trình đang có, mà đòi hỏi tổ chức phải thay đổi cách thức vận hành, phân bổ nguồn lực và ra quyết định.

Đây cũng là lý do tâm lý an toàn, sợ sai, sợ trách nhiệm có thể trở thành một trong những lực cản lớn nhất. Khi cán bộ, lãnh đạo lo ngại rủi ro hơn là nhìn thấy cơ hội, những sáng kiến mới rất khó được triển khai đến cùng.

Dưới góc nhìn chiến lược tổ chức, ông Lê Nguyễn Trường Giang, Viện trưởng Viện Chiến lược chuyển đổi số (Hội Truyền thông số Việt Nam) chỉ rõ sai lầm phổ biến trong tư duy của nhiều lãnh đạo tổ chức: "Thành công trong chuyển đổi số không phụ thuộc vào việc mua bao nhiêu phần mềm hay chạy theo các xu hướng công nghệ trên bề nổi mà phụ thuộc chủ yếu vào tư duy và cách thức tổ chức lại hệ thống. Mục tiêu cốt lõi của người đứng đầu là phải xây dựng được một bộ máy đơn giản, đo lường được, dữ liệu hóa toàn bộ hoạt động quản trị để đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu thực tế".

Điều đó cho thấy, chuyển đổi số trước hết là một bài toán quản trị. Công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được đặt trong một mô hình tổ chức phù hợp, với mục tiêu rõ ràng và cơ chế đánh giá dựa trên kết quả.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Tổng Giám đốc VNPT-IT cũng nhận định: "Để chuyển đổi số, quan trọng nhất là người đứng đầu có quyết tâm sống chết để chuyển đổi hay không. Với doanh nghiệp nhà nước, để thúc đẩy quá trình này cần có cây gậy rất mạnh là chính sách nhà nước, nghị quyết, sự giám sát thường xuyên và hơn hết là quyết tâm của người đứng đầu".

Tuy nhiên, quyết tâm của người đứng đầu cũng cần được chuyển hóa thành phương pháp triển khai cụ thể. Không phải mọi tổ chức đều có thể thay đổi toàn bộ trong một thời gian ngắn. Việc lựa chọn đúng điểm bắt đầu, tạo ra kết quả ban đầu và nhân rộng những mô hình hiệu quả có thể giúp giảm tâm lý e ngại trong toàn bộ bộ máy.

Cùng trao đổi về phương pháp luận triển khai nhằm vượt qua tâm lý e ngại ban đầu, ông Đoàn Hữu Hậu, Giám đốc Tư vấn Chuyển đổi số FPT Digital gợi mở: "Nên bắt đầu từ những bước nhỏ, ưu tiên những sáng kiến có khả năng mở rộng để tạo ra chiến thắng bước đầu, truyền cảm hứng cho toàn bộ đội ngũ".

Từ góc độ này, yêu cầu đối với người đứng đầu không chỉ là “dám làm”, mà còn phải xác định được làm gì trước, đo lường bằng tiêu chí nào và chịu trách nhiệm đến đâu. Chuyển đổi số chỉ có thể tạo ra thay đổi thực chất khi quyết tâm chính trị và quyết tâm quản trị được chuyển thành hành động cụ thể.

Một trong những nguyên nhân khiến chuyển đổi số dễ rơi vào hình thức là tư duy triển khai theo phong trào kiểu xây dựng đề án, đầu tư hệ thống, tổ chức lễ khai trương nhưng chưa xác định rõ bài toán cần giải quyết và giá trị cuối cùng mang lại cho người dân, doanh nghiệp hoặc chính tổ chức.

Trong khi đó, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp và mỗi mô hình hoạt động có những đặc thù riêng. Vì vậy, không thể áp dụng một “mẫu số chung” cho mọi bài toán chuyển đổi số.

Chìa khóa nằm ở khả năng thử nghiệm, đánh giá, điều chỉnh và nhân rộng. Đây cũng là lý do cơ chế thử nghiệm chính sách (Sandbox) được đặt ra như một giải pháp nhằm tạo không gian cho những mô hình mới được kiểm chứng trong phạm vi và điều kiện kiểm soát được.

Đề xuất giải pháp đột phá cho thể chế thử nghiệm, ông Chử Đức Hoàng (Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia) kiến nghị: "Cần sớm ban hành cơ chế thử nghiệm chính sách (Sandbox) dành riêng cho DNNN trong việc nghiên cứu, phát triển và áp dụng các công nghệ chiến lược như AI, Chip bán dẫn và Nền tảng số. Nếu không có cơ chế Sandbox để bảo vệ rủi ro có kiểm soát, các DNNN sẽ luôn e dè và không bao giờ dám tiên phong làm chủ các công nghệ mới".

Nếu được thiết kế phù hợp, Sandbox không đồng nghĩa với việc “nới lỏng” quản lý. Ngược lại, đây có thể là cách để cơ quan quản lý kiểm soát rủi ro ngay trong quá trình thử nghiệm, thay vì áp dụng một khuôn khổ cứng cho những công nghệ mà pháp luật chưa thể dự liệu đầy đủ.

Từ góc độ thực tế của doanh nghiệp, ông Nguyễn Đoàn Kết, Phó Tổng Giám đốc Rạng Đông đúc kết: "Chuyển đổi số là bài toán khó, không có mẫu số chung. Chuyển đổi số phải rất cụ thể, chi tiết và mang lại hiệu quả ngay. Nếu chỉ nói chuyển đổi số trên trời, trên biển mà không đạt hiệu quả thực tế thì hoàn toàn vô nghĩa".

Quan điểm này cũng đặt ra một yêu cầu quan trọng là hiệu quả chuyển đổi số phải được đo bằng kết quả thực tế, thay vì số lượng nền tảng được xây dựng, số phần mềm được mua hay số quy trình được số hóa.

Những điểm nghẽn về thể chế và tư duy quản trị cũng liên quan trực tiếp đến yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý trong những lĩnh vực công nghệ mới. Khi các mô hình kinh doanh thay đổi nhanh, pháp luật không thể chỉ chạy theo để xử lý từng vấn đề phát sinh, mà cần có cơ chế đủ linh hoạt để thích ứng.

Kinh nghiệm quản lý ngành từ ông Lê Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN) cho thấy, "chuyển đổi số là sự thay đổi toàn diện về tư duy và văn hóa. Khung pháp lý cần liên tục được cập nhật để bắt kịp các mô hình kinh doanh mới như Fintech, Open API, AI, đồng thời đẩy mạnh đào tạo nhân lực và thích ứng với văn hóa làm việc linh hoạt (Agile)".

Nhìn tổng thể, những điểm nghẽn của chuyển đổi số hiện nay không tồn tại độc lập, thể chế chưa theo kịp khiến quy trình đầu tư kéo dài; quy trình kéo dài làm gia tăng rủi ro công nghệ lạc hậu; tâm lý sợ sai khiến cán bộ, doanh nghiệp càng có xu hướng lựa chọn phương án an toàn; trong khi dữ liệu chưa được kết nối đầy đủ lại làm giảm hiệu quả của các nền tảng số.

Ở cấp cơ sở, hạ tầng số cũng phát triển chưa đồng đều, một số nơi còn thiếu nguồn lực, thiếu nhân lực và tiềm ẩn nguy cơ về an toàn thông tin. Tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu kết nối giữa các cơ quan, đơn vị khiến việc khai thác dữ liệu phục vụ quản trị và cung cấp dịch vụ chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng.

Vì vậy, tháo gỡ điểm nghẽn không thể chỉ là đầu tư thêm công nghệ. Điều quan trọng hơn là tạo ra một hệ sinh thái trong đó thể chế đủ linh hoạt, quy trình đủ nhanh, người đứng đầu đủ quyết đoán và việc triển khai được đo bằng kết quả thực tế.

Từ thực tiễn và phân tích của các chuyên gia, có thể thấy điểm nghẽn lớn của chuyển đổi số trong khu vực công và DNNN hiện nay không nằm ở việc thiếu công nghệ, mà nằm ở khoảng cách giữa tốc độ phát triển của công nghệ với tốc độ thay đổi của thể chế, quy trình và tư duy quản trị.

Để Nghị quyết 57-NQ/TW đi vào cuộc sống, “cởi gông” thể chế phải đi cùng với tháo gỡ những nút thắt trong tư duy và cách thức tổ chức thực hiện. Khi người đứng đầu thực sự quyết đoán, cơ chế thử nghiệm linh hoạt được hình thành và hiệu quả chuyển đổi số được đo bằng những giá trị cụ thể, các nút thắt mới có thể từng bước được tháo gỡ. Nhưng tháo gỡ điểm nghẽn mới chỉ là bước đầu. Câu hỏi quan trọng hơn làsau khi có công nghệ, có cơ chế và có quyết tâm thay đổi, doanh nghiệp phải tổ chức lại mô hình kinh doanh như thế nào để tạo ra giá trị thực?

Thực hiện: Phạm Minh Hòa - Văn Ngân - Đồng Toàn

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Sáu, 06:00, 20/02/2026

VOV.VN trên Google News