

Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thống nhất định hướng xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, xác định biển là không gian sinh tồn, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu tăng trưởng nhanh phải song hành với phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giữ vững chủ quyền quốc gia.

Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV ngày 20/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36 ngày 22/10/2018 của Trung ương khóa XII và ban hành nghị quyết mới về xây dựng, phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh cần được đặt trong tư duy quản trị thống nhất lãnh thổ.
Theo cách tiếp cận này, biển không thể được quản lý như một không gian tách biệt với đất liền. Phát triển biển phải được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với hệ thống cảng biển, logistics, các hành lang kinh tế, các trung tâm sản xuất và dịch vụ, đồng thời gắn với hợp tác quốc tế. Khơi thông nguồn lực phát triển phải đi đôi với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; phân cấp phải gắn với kiểm soát đầu cơ, lãng phí và lợi ích nhóm; dữ liệu phải được xây dựng thống nhất, liên thông.
Đây là sự chuyển biến quan trọng về tư duy. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu đặt vào việc khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của biển thì trong giai đoạn mới, yêu cầu được nâng lên thành phát triển kinh tế biển trên nền tảng quản trị hiện đại, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh được xác định là bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo, đồng thời kế thừa những kết quả sau gần 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam. Mục tiêu không chỉ là khai thác tài nguyên biển mà còn phải bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống nhân dân, quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược trên biển ngày càng gia tăng, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và xu hướng chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, việc xây dựng một quốc gia biển mạnh vì thế không còn đơn thuần là câu chuyện phát triển kinh tế. Đây còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực cạnh tranh, khả năng chống chịu và tương lai phát triển lâu dài của đất nước.

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, Việt Nam có những điều kiện tự nhiên và vị trí địa kinh tế đặc biệt thuận lợi để phát triển kinh tế biển. Việt Nam có hơn 3.260km bờ biển, vùng biển rộng gấp khoảng 3 lần diện tích đất liền và hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ phân bố từ Bắc vào Nam. Hệ thống vũng, vịnh, cửa sông, đầm phá cùng các hệ sinh thái biển phong phú tạo nên nguồn lực tự nhiên rất lớn. Vị trí nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng cũng mang lại lợi thế về giao thương, logistics, thủy sản, du lịch biển, dầu khí, năng lượng tái tạo và nhiều ngành kinh tế biển mới.

Không gian biển đồng thời giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược trong bảo vệ chủ quyền quốc gia và góp phần kiểm soát các tuyến hàng hải quốc tế. Tuy nhiên, tiềm năng lớn chưa đồng nghĩa với việc nguồn lực đã được chuyển hóa thành năng lực phát triển tương xứng.
Sau gần 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, kinh tế biển đã đạt nhiều kết quả tích cực. Dù vậy, việc khai thác, sử dụng và quản trị biển vẫn còn những hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển bền vững. Một trong những nguyên nhân quan trọng là nhận thức về phát triển kinh tế biển theo hướng tổng hợp chưa thực sự thống nhất.
Ở một số nơi, tư duy phát triển vẫn mang tính ngành hoặc phụ thuộc vào địa giới hành chính. Trong khi đó, biển là một không gian liên thông. Hoạt động của một ngành có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhiều ngành khác; sự phát triển của một địa phương ven biển cũng có thể tạo ảnh hưởng đến các địa phương lân cận. Nếu mỗi địa phương chỉ tập trung khai thác lợi thế riêng mà thiếu liên kết vùng, nguồn lực sẽ bị phân tán, hạ tầng có nguy cơ đầu tư chồng chéo và không hình thành được các chuỗi giá trị đủ lớn.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi cho rằng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng còn hạn chế; quy hoạch còn phân mảnh và quy hoạch không gian biển quốc gia chưa phát huy đầy đủ vai trò điều phối. Trong một số trường hợp, sự phát triển của ngành này hoặc địa phương này có thể làm thu hẹp dư địa phát triển của ngành khác hoặc địa phương khác. Đây là bài toán cần được giải quyết nếu muốn biến biển thành một động lực tăng trưởng mới.

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đột phá đầu tiên phải nằm ở thể chế. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, xây dựng cơ chế quản trị tổng hợp, thống nhất và hiện đại là điều kiện tiên quyết để khơi thông các nguồn lực. Quy hoạch không gian biển cũng cần được nâng lên một bước, theo hướng đa ngành, đa mục tiêu, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và giữ vững quốc phòng, an ninh.

Một điểm đáng chú ý là quá trình sắp xếp lại đơn vị hành chính có thể mở ra những dư địa phát triển mới. Khi không gian phát triển được mở rộng, nhiều địa phương có điều kiện kết nối miền núi, trung du với đồng bằng và ven biển. Từ đó có thể hình thành các hành lang kinh tế, trung tâm logistics, chuỗi công nghiệp và dịch vụ gắn với cảng biển.
Thay vì phát triển cục bộ, các địa phương có thể cùng tham gia một chuỗi giá trị thống nhất. Khu vực ven biển có thể trở thành đầu mối giao thương và công nghiệp; các khu vực phía trong cung cấp nguyên liệu, nhân lực và dịch vụ hỗ trợ; hệ thống cảng biển kết nối với các trung tâm logistics và mạng lưới giao thông liên vùng. Cách tiếp cận này sẽ tạo điều kiện hình thành những cực tăng trưởng mới, đồng thời hạn chế tình trạng cạnh tranh không cần thiết giữa các địa phương.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi nhấn mạnh Việt Nam phải “ra biển bằng đôi chân thể chế và công nghệ”. Đây được xem là hai trụ cột quyết định khả năng cạnh tranh của kinh tế biển trong tương lai. Nếu thể chế tạo hành lang cho phát triển thì công nghệ sẽ quyết định khả năng khai thác hiệu quả và bền vững không gian biển.
Trong nhiều năm, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số chưa trở thành nền tảng đầy đủ cho quản trị biển hiện đại. Một số hoạt động khai thác vẫn dựa nhiều vào công nghệ truyền thống, trong khi các lĩnh vực mới như điện gió ngoài khơi, kinh tế biển sâu, kinh tế carbon xanh hay nuôi biển công nghệ cao đều đòi hỏi trình độ công nghệ tiên tiến và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Vì vậy, cùng với hoàn thiện thể chế, Việt Nam cần tăng cường đầu tư cho điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển, xây dựng cơ sở dữ liệu số về biển, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và các công nghệ số trong quản lý, giám sát và khai thác tài nguyên.
Một hệ thống dữ liệu biển thống nhất sẽ giúp cơ quan quản lý có được bức tranh đầy đủ hơn về tài nguyên, môi trường, hoạt động kinh tế và các nguy cơ có thể phát sinh. Đây cũng là cơ sở để đưa ra quyết định chính xác hơn trong quy hoạch và phân bổ không gian biển. Đặc biệt, khi Việt Nam tiến ra những vùng biển xa và khai thác những lĩnh vực có độ phức tạp cao, dữ liệu và công nghệ sẽ trở thành yếu tố không thể thiếu.
Cùng với công nghệ, nguồn nhân lực cũng là vấn đề then chốt. Những ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, công nghiệp đóng tàu hiện đại, dược liệu biển hay kinh tế bảo tồn đều cần đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và lao động kỹ thuật có trình độ cao. Việc phát triển nguồn nhân lực phải được thực hiện song song với xây dựng cơ chế thu hút các nhà đầu tư chiến lược. Những ngành kinh tế biển mới thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi dài và môi trường chính sách ổn định. Nếu hành lang pháp lý thiếu rõ ràng, nhà đầu tư sẽ khó đưa ra những quyết định dài hạn.

Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định phát triển mạnh các ngành kinh tế biển mới, ưu tiên năng lượng tái tạo, chuyển đổi năng lượng bền vững và khai thác hiệu quả không gian biển. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, điện gió ngoài khơi được kỳ vọng trở thành một trụ cột của kinh tế biển xanh, vừa góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo dư địa phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại.
Trong các ngành kinh tế biển mới, điện gió ngoài khơi đang nổi lên như một lĩnh vực có tiềm năng đặc biệt. TS. Dư Văn Toán, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển, đánh giá điện gió ngoài khơi là một trong những lĩnh vực hội tụ đầy đủ điều kiện để trở thành ngành kinh tế biển chiến lược của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.
Khác với các nguồn tài nguyên hữu hạn, gió ngoài khơi là nguồn năng lượng tái tạo, sạch và có khả năng khai thác lâu dài. Việt Nam sở hữu hơn 3.260km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng gần một triệu km² cùng điều kiện gió tương đối ổn định quanh năm.

Theo đánh giá được dẫn trong tài liệu, Việt Nam được xem là quốc gia có điều kiện phát triển điện gió ngoài khơi thuận lợi hàng đầu tại Đông Nam Á và thuộc nhóm các quốc gia có tiềm năng lớn trên thế giới.
Các nghiên cứu trước đây của Ngân hàng Thế giới ước tính Việt Nam có khoảng 600 GW tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi. Những nghiên cứu cập nhật của các cơ quan chuyên môn trong nước đưa ra con số khoảng 1.068 GW. Sau khi áp dụng các tiêu chí loại trừ những khu vực hàng hải, luồng tàu, khu bảo tồn biển và các vùng không phù hợp, tiềm năng khai thác thực tế vẫn có thể đạt khoảng 886 GW, với không gian biển phát triển khoảng 130.000km2. Những con số này cho thấy điện gió ngoài khơi không chỉ là một lĩnh vực năng lượng mà còn có thể trở thành một ngành kinh tế biển quy mô lớn.

Một nghịch lý đang tồn tại là Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc nhóm hàng đầu thế giới nhưng đến nay chưa có dự án thương mại. Theo TS. Dư Văn Toán, nhận thức về phát triển điện gió ngoài khơi đã thay đổi rõ rệt trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam đưa ra các cam kết về phát thải ròng bằng 0 và thúc đẩy chuyển đổi năng lượng.
Điện gió ngoài khơi đã được xác lập trong Luật Điện lực năm 2024. Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng dành không gian phát triển lớn cho lĩnh vực này, với mục tiêu khoảng 6 GW vào năm 2030 và gần 140 GW vào năm 2050. Tuy nhiên, từ quy hoạch đến dự án cụ thể vẫn còn một khoảng cách đáng kể.
Điểm nghẽn lớn được chỉ ra là thể chế. Một dự án điện gió ngoài khơi liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật, từ điện lực, đầu tư, biển Việt Nam, tài nguyên và môi trường biển, quy hoạch đến đất đai. Khi các quy định chưa đồng bộ, nhà đầu tư phải thực hiện nhiều thủ tục khác nhau, khiến thời gian chuẩn bị dự án kéo dài. Bên cạnh đó, một số vấn đề về quản lý dữ liệu, cấp phép cho thiết bị khảo sát, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, cũng như cơ chế giá điện dài hạn vẫn cần được hoàn thiện. Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng bởi điện gió ngoài khơi là ngành đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn.
Một dự án điện gió ngoài khơi quy mô 1 GW có thể cần nguồn vốn khoảng 3-4 tỷ USD. Với mức vốn lớn như vậy, một hành lang pháp lý chưa rõ ràng sẽ làm gia tăng rủi ro và khiến việc huy động nguồn vốn quốc tế gặp khó khăn. Do đó, muốn đưa điện gió ngoài khơi từ tiềm năng thành năng lực phát triển thực tế, Việt Nam cần nhanh chóng tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế.
Giá trị của điện gió ngoài khơi không nằm riêng ở sản lượng điện tạo ra. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một dự án điện gió ngoài khơi có thể kéo theo sự phát triển của hàng loạt ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ. Trong đó có cơ khí chế tạo, đóng tàu, cảng biển, logistics, khảo sát biển, vận tải chuyên dụng, lắp đặt thiết bị, bảo trì, công nghệ dự báo khí tượng - hải văn và đào tạo nhân lực. Điều này mở ra khả năng hình thành một chuỗi giá trị kinh tế biển hoàn chỉnh.

Khi các dự án được triển khai, nhu cầu về tàu chuyên dụng, thiết bị cơ khí, kết cấu công trình biển, dịch vụ khảo sát, vận chuyển và lắp đặt sẽ tăng lên. Nếu doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực tham gia, giá trị gia tăng sẽ không chỉ nằm ở khâu phát điện mà còn được phân bổ trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Theo Quy hoạch điện VIII, mục tiêu đến năm 2050 là khoảng 139 GW điện gió ngoài khơi. Nếu được hiện thực hóa, tổng vốn đầu tư có thể lên tới gần 500 tỷ USD. Quy mô này cho thấy điện gió ngoài khơi có khả năng tạo ra một thị trường rất lớn, đồng thời đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, không gian quanh các trang trại điện gió có thể được khai thác theo hướng đa mục tiêu.
Các khu vực quanh chân turbine có thể được nghiên cứu để phục hồi hệ sinh thái biển hoặc hình thành rạn nhân tạo. Khoảng không gian giữa các turbine có thể kết hợp với nuôi biển công nghệ cao hoặc những mô hình khai thác phù hợp khác. Khi nguồn điện xanh trở nên dồi dào, Việt Nam còn có thể mở rộng sang sản xuất hydro xanh và các loại nhiên liệu xanh phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Như vậy, điện gió ngoài khơi có thể trở thành điểm khởi đầu của một chuỗi giá trị kinh tế xanh rộng lớn.

Một khía cạnh đáng chú ý khác của điện gió ngoài khơi là sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với quản trị không gian biển. Theo TS. Dư Văn Toán, các trang trại điện gió ngoài khơi quy mô lớn sẽ đi cùng hệ thống quan trắc khí tượng, hải văn, radar, thông tin liên lạc và nhiều hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Những công trình này có thể góp phần nâng cao năng lực quản lý, giám sát và khai thác không gian biển. Có thể hình dung mỗi cụm điện gió ngoài khơi không chỉ là một công trình năng lượng mà còn là một “cột mốc xanh” giữa biển khơi, thể hiện sự hiện diện của Việt Nam thông qua các hoạt động phát triển kinh tế hợp pháp, hiện đại và bền vững.

Nếu hình thành được mạng lưới các trang trại điện gió dọc theo bờ biển, Việt Nam có thể phát triển đồng bộ các hạ tầng liên quan như cáp quang ngầm dưới biển, hệ thống thông tin và các trung tâm dữ liệu phù hợp với điều kiện kỹ thuật, qua đó phục vụ phát triển kinh tế và tăng cường năng lực quản trị không gian biển. Tất nhiên, việc phát triển các công trình trên biển phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, bảo đảm an toàn hàng hải, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Để điện gió ngoài khơi thực sự trở thành một ngành kinh tế biển mới, việc đầu tiên cần làm là hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật liên quan. Theo TS. Dư Văn Toán, cần tập trung vào các quy định về quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư và đấu nối hạ tầng truyền tải. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích đủ mạnh đối với những dự án tiên phong, đầu tư đồng bộ hệ thống cảng biển, công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhân lực và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về gió ngoài khơi.
Trong đó, nhân lực là một yếu tố có tính quyết định. Việt Nam cần đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia trong nước, đồng thời có chính sách đủ hấp dẫn để thu hút chuyên gia quốc tế giàu kinh nghiệm từ những quốc gia có ngành điện gió ngoài khơi phát triển như Đan Mạch, Anh, Đức, Hà Lan. Việc thu hút người Việt Nam ở nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực này trở về cũng có thể tạo thêm nguồn lực quan trọng. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có các dự án điện gió mà phải từng bước làm chủ công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Một đề xuất khác được đưa ra là nghiên cứu thành lập viện hoặc trung tâm nghiên cứu biển xuất sắc tầm quốc gia theo mô hình mở, kết nối với các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Đây có thể là nơi tập hợp các nhà khoa học trong và ngoài nước, nghiên cứu công nghệ lõi về năng lượng tái tạo biển, hải dương học, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo, quan trắc và dự báo biển. Đồng thời, trung tâm này có thể trở thành hạt nhân đào tạo nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các ngành kinh tế biển mới.

Theo TS. Dư Văn Toán, phát triển kinh tế biển hiện đại không thể tách rời yêu cầu bảo vệ môi trường. Không gian biển có giới hạn và các hệ sinh thái biển có tính liên kết cao. Một quyết định quy hoạch thiếu cơ sở khoa học có thể tác động đến nhiều ngành kinh tế, sinh kế của cộng đồng ngư dân và đa dạng sinh học. Vì vậy, quy hoạch không gian biển cần được xây dựng trên cơ sở khoa học, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì sinh kế của cộng đồng ngư dân.

Đối với điện gió ngoài khơi, quá trình lựa chọn vị trí dự án cần tính toán đầy đủ các yếu tố về hàng hải, quốc phòng, an ninh, môi trường, hệ sinh thái, hoạt động khai thác thủy sản và các ngành kinh tế biển khác. Mục tiêu không phải là dành toàn bộ không gian biển cho một ngành mà là tổ chức không gian theo hướng đa mục tiêu, trong đó các hoạt động có thể bổ trợ cho nhau và hạn chế tối đa xung đột. Đây cũng chính là tinh thần của quản trị biển hiện đại: không khai thác bằng mọi giá mà phải sử dụng không gian biển một cách khoa học, hiệu quả và có trách nhiệm với các thế hệ tương lai.
Theo đánh giá của TS. Dư Văn Toán, Việt Nam hiện đã có hơn 10 dự án điện gió ngoài khơi được cấp phép khảo sát, với tổng quy mô dự kiến trên 10.000 MW. Điều này cho thấy sự quan tâm của các nhà đầu tư đối với thị trường Việt Nam vẫn rất lớn, đồng thời phản ánh quá trình chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới của ngành.
Nghị quyết số 20-NQ/TW được ban hành trong thời điểm này có ý nghĩa quan trọng khi tạo cơ sở chính trị để các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và tháo gỡ những vấn đề liên quan đến quy hoạch không gian biển, giao khu vực biển, cấp phép khảo sát, lựa chọn nhà đầu tư, đấu nối hạ tầng và phát triển thị trường điện.
Nếu những điểm nghẽn được giải quyết, điện gió ngoài khơi có thể chuyển từ giai đoạn nghiên cứu, khảo sát sang giai đoạn phát triển thực chất. TS. Dư Văn Toán kỳ vọng, nếu các nhiệm vụ được triển khai quyết liệt trong giai đoạn 2026-2027, Việt Nam hoàn toàn có khả năng xuất hiện những dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên vào cuối thập niên này. Quan trọng hơn, quá trình đó sẽ tạo tiền đề hình thành một ngành công nghiệp biển xanh quy mô lớn.
Đây không chỉ là một mục tiêu của ngành năng lượng. Nếu được triển khai đồng bộ, điện gió ngoài khơi có thể trở thành mắt xích kết nối giữa năng lượng, công nghiệp chế tạo, cảng biển, logistics, khoa học - công nghệ, dịch vụ biển và đào tạo nhân lực.
Nghị quyết chỉ thực sự phát huy giá trị khi được cụ thể hóa bằng những chương trình, chính sách và dự án cụ thể. Đối với phát triển kinh tế biển, yêu cầu này càng rõ ràng bởi đây là lĩnh vực liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương và nhiều cấp quản lý. Nếu thiếu sự phối hợp thống nhất, các nguồn lực sẽ tiếp tục bị phân tán và cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ.
Điều quan trọng trước hết là tạo được một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch và có khả năng dự báo. Nhà đầu tư cần biết rõ quy trình, thời gian, trách nhiệm của từng cơ quan và những điều kiện cần thiết để triển khai dự án. Cùng với đó, quy hoạch không gian biển phải thực sự đóng vai trò điều phối. Các hoạt động phát triển cảng biển, logistics, du lịch, thủy sản, năng lượng, bảo tồn và quốc phòng, an ninh cần được đặt trong một tổng thể thống nhất. Khi quy hoạch được thực hiện tốt, những xung đột không gian có thể được nhận diện sớm và giải quyết ngay từ đầu. Song song với thể chế và quy hoạch là đầu tư cho khoa học - công nghệ. Một quốc gia biển mạnh không thể chỉ dựa vào khai thác tài nguyên mà phải làm chủ tri thức về biển.
Điều tra cơ bản, dữ liệu số, công nghệ viễn thám, trí tuệ nhân tạo, quan trắc và dự báo biển sẽ ngày càng có vai trò quan trọng. Những công nghệ này không chỉ phục vụ kinh tế mà còn góp phần nâng cao năng lực bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và quản lý không gian biển. Trong quá trình đó, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là yếu tố xuyên suốt.

Việt Nam có đầy đủ những lợi thế cơ bản để xây dựng một nền kinh tế biển mạnh: bờ biển dài, vùng biển rộng, hệ thống đảo phong phú, vị trí địa kinh tế thuận lợi, nguồn tài nguyên đa dạng và tiềm năng năng lượng tái tạo lớn. Nhưng lợi thế tự nhiên chỉ là điều kiện ban đầu.

Để trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam cần chuyển lợi thế thành năng lực cạnh tranh. Muốn vậy, tư duy phát triển phải chuyển từ khai thác đơn ngành sang quản trị tổng hợp; từ phát triển cục bộ sang liên kết vùng; từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào khoa học - công nghệ; từ khai thác ngắn hạn sang phát triển bền vững.
Trong quá trình đó, điện gió ngoài khơi có thể là một phép thử quan trọng đối với năng lực quản trị biển của Việt Nam. Nếu giải quyết được bài toán thể chế, quy hoạch, vốn, công nghệ, nhân lực và môi trường để triển khai những dự án điện gió ngoài khơi đầu tiên, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn năng lượng sạch mà còn có cơ hội hình thành một hệ sinh thái công nghiệp biển hiện đại.
Từ những turbine giữa biển có thể mở ra nhu cầu về cảng biển chuyên dụng, tàu vận tải và lắp đặt, cơ khí chế tạo, logistics, dịch vụ khảo sát, bảo trì, dữ liệu biển, đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học. Từ nguồn điện xanh có thể tiếp tục hình thành các ngành công nghiệp mới như hydro xanh và nhiên liệu xanh. Như vậy, câu chuyện điện gió ngoài khơi cần được nhìn nhận trong một tầm nhìn rộng hơn: đó là câu chuyện khai thác không gian biển theo hướng hiện đại, xanh và đa mục tiêu.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác lập tầm nhìn đưa biển trở thành động lực phát triển đất nước trong nhiều thập niên tới. Để tầm nhìn ấy trở thành hiện thực, yêu cầu đặt ra là thể chế phải đi trước, quy hoạch phải đồng bộ, quản trị phải hiện đại và khoa học - công nghệ phải trở thành động lực tăng trưởng.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để viết lại câu chuyện phát triển từ biển. Nhưng cơ hội chỉ trở thành thành quả khi được chuyển hóa bằng những quyết sách cụ thể, sự phối hợp thống nhất và năng lực tổ chức thực hiện. Từ phát triển năng lượng tái tạo đến logistics, công nghiệp biển, thủy sản công nghệ cao, du lịch, khoa học và dịch vụ biển, một hệ sinh thái kinh tế mới đang có điều kiện hình thành.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là khai thác được nhiều hơn từ biển mà là xây dựng một nền kinh tế biển có giá trị gia tăng cao, phát triển bền vững, bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống người dân và góp phần củng cố quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia. Đó cũng là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và phát triển bền vững trong những thập niên tới.

Tác giả: Văn Ngân
Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s