Hơn 3.000km đường bộ cao tốc được đưa vào khai thác không chỉ góp phần rút ngắn khoảng cách địa lý, mà còn đang tái cấu trúc không gian phát triển, mở ra những vận hội mới cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới. Hiện ngành giao thông đang bước vào giai đoạn tăng tốc mới, hướng tới mục tiêu 5.000km cao tốc năm 2030.

Nhìn lại chặng đường phát triển hạ tầng giao thông, giai đoạn 2021–2025 được xem là bước ngoặt mang tính lịch sử. Nếu trong giai đoạn 2001–2010, cả nước chỉ có 89km cao tốc và giai đoạn 2011–2020 tăng thêm hơn 1.000km, thì chỉ trong 5 năm gần đây, tổng chiều dài cao tốc đã tăng gấp đôi hai thập kỷ trước cộng lại.

Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, đến hết năm 2025, tổng chiều dài tuyến chính đường bộ cao tốc cả nước đạt khoảng 3.188km; nếu tính cả các nút giao và đường dẫn, con số lên tới 3.513km. Đây là tốc độ phát triển nhanh chưa từng có trong lịch sử ngành giao thông vận tải.

Thực tế cho thấy, hiệu quả của các dự án cao tốc đã hiện hữu rõ rệt trong đời sống người dân từ Bắc vào Nam, từ miền núi xuống miền biển. Đây là giai đoạn hệ thống cao tốc phát triển nhanh nhất từ trước tới nay, tạo bước đột phá cả về quy mô đầu tư lẫn tiến độ thi công.

Anh Nguyễn Nhật quê ở Gò Công, Đồng Tháp chuyên chở hoa quả tươi ra chợ đầu mối Đền Lừ (phường Hoàng Mai, Hà Nội) không giấu nổi vui mừng cho biết, chất lượng đường cao tốc ngày càng tốt và thuận tiện hơn. Anh chở hàng từ quê thẳng lên cao tốc Mỹ Thuận - Trung Lương – TP. HCM, vào cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây rồi vào cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết và nhiều đoạn cao tốc Bắc - Nam mới được thông xe giúp rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển.

“Chúng tôi phấn khởi và nhàn hơn nhiều chứ. Thời gian chạy cao tốc Bắc - Nam giảm mạnh so với QL1A thường xuyên ùn tắc, xe không phải dừng đỗ nhiều, tiết kiệm chi phí dầu và giảm căng thẳng cho tài xế. Hàng hoa quả tươi ra đến ngoài Bắc vẫn tươi nguyên”, anh Nhật hồ hởi nói.

Cũng như anh Nhật, ông Phạm Minh Thành (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội) chia sẻ sau chuyến đi miền Tây Nam Bộ: “Trước đây, từ Đồng Tháp ra sân bay Cần Thơ mất gần 2 tiếng do đường hẹp, đông. Nay đi cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ chỉ mất khoảng 1 tiếng, đường đẹp, di chuyển an toàn và đỡ mệt hơn rất nhiều”.

Theo ông Nguyễn Thế Minh, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), hết năm 2025, mạng lưới cao tốc Bắc – Nam đã cơ bản hoàn thành, cùng với một số tuyến cao tốc trục ngang kết nối thông suốt từ Bắc tới Nam, từ miền núi đến đồng bằng và ven biển, hình thành trục phát triển chiến lược, lan tỏa động lực tăng trưởng trên phạm vi cả nước.

“Tính đến hết năm 2025, tổng chiều dài tuyến chính đường bộ cao tốc hoàn thành, thông xe đã đạt con số 3.188km. Nếu tính cả chiều dài các nút giao và đường dẫn, con số này lên tới 3.513km – một tốc độ phát triển "thần mã" trong lịch sử ngành giao thông vận tải nước nhà", ông Minh cho biết.

Cũng theo ông Minh, việc hoàn thành mục tiêu này không chỉ rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giảm chi phí logistics, mà còn góp phần hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc quốc gia theo hướng đồng bộ, hiện đại và liên thông, tạo nền tảng để Việt Nam chuyển sang giai đoạn phát triển hạ tầng giao thông đa phương thức, thông minh, bền vững, phục vụ mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Giá trị của mạng lưới cao tốc không chỉ nằm ở chiều dài, mà ở khả năng kết nối đa phương thức giữa cảng biển, sân bay và cửa khẩu.

Tại miền Bắc, các tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long - Vân Đồn - Móng Cái đã hình thành hành lang kinh tế liên hoàn, giúp rút ngắn thời gian di chuyển, đồng thời thúc đẩy phát triển logistics tại cảng nước sâu Lạch Huyện. Nhờ đó, chi phí vận chuyển hàng hóa từ các khu công nghiệp ra cảng biển giảm đáng kể.

Số liệu cho thấy, sau khi các tuyến cao tốc đi vào hoạt động, lượng khách du lịch đến Quảng Ninh tăng 1,8 lần, Hải Phòng tăng 1,63 lần so với trước.

Ở phía Nam, kết nối giữa cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây với cụm cảng Cái Mép - Thị Vải đã nâng cao năng lực cạnh tranh cho hệ thống cảng biển nước sâu. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, cao tốc góp phần giảm ùn tắc, giảm chi phí vận chuyển nông sản, qua đó nâng cao thu nhập cho người dân.

Hạ tầng giao thông đi trước đã tạo ra những “vùng đất hứa” mới cho đầu tư. Theo ông Phạm Hữu Sơn, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI), các địa phương có cao tốc đi qua đều ghi nhận tăng trưởng GRDP cao hơn mức trung bình cả nước.

Cụ thể, Lào Cai đạt mức tăng trưởng hơn 10%, Hải Phòng gần 13%, trong khi bình quân cả nước khoảng 6,3%. Điều này cho thấy tác động lan tỏa mạnh mẽ của hạ tầng giao thông tới phát triển kinh tế.

Cùng với đó, dòng vốn đầu tư đang có xu hướng dịch chuyển từ các trung tâm truyền thống sang các địa phương có lợi thế về quỹ đất và kết nối hạ tầng như Long An, Đồng Tháp, Quảng Ngãi, Hải Phòng…

Bàn về tầm quan trọng của cột mốc 3.000km, chuyên gia kinh tế, tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa nhận định rằng đây không chỉ là dấu mốc về hạ tầng, mà còn là việc tạo ra xung lực kinh tế đa tầng.

Ông Nghĩa phân tích: “Việc triển khai đồng loạt các dự án cao tốc đã kích thích tổng cầu, kéo theo sự phát triển của nhiều ngành như thép, xi măng, vật liệu xây dựng và tạo việc làm cho hàng vạn lao động. Về dài hạn, hạ tầng giao thông sẽ giúp tái cấu trúc không gian kinh tế và nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam đối với nhà đầu tư quốc tế”.

Đồng quan điểm, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa nhấn mạnh sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện mục tiêu này. Ông cho rằng, hiện nay lãnh đạo nhiều tỉnh thành đã ý thức rất rõ việc hạ tầng đi trước. Họ không còn chạy theo phát triển bất động sản ngắn hạn dọc theo các tuyến đường, mà tập trung nguồn lực để quy hoạch các khu - cụm công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hoàn thiện hạ tầng số để đón nhận làn sóng đầu tư mới.

"Mỗi đồng vốn đầu tư vào hạ tầng giao thông có thể tạo ra giá trị gia tăng gấp nhiều lần thông qua việc nâng cao hiệu quả lưu thông và phân phối. Trong dài hạn, hệ thống cao tốc chính là công cụ tái cấu trúc không gian kinh tế và tạo ra hàng triệu việc làm bền vững", đại biểu Phạm Văn Hòa phân tích.

Đằng sau kết quả này là hàng loạt quyết sách mang tính đột phá về thể chế. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế đặc thù như rút gọn thủ tục đầu tư, áp dụng chỉ định thầu với một số gói thầu lớn, giao mỏ vật liệu trực tiếp cho nhà thầu.

Các chính sách này đã tháo gỡ những “nút thắt” tồn tại nhiều năm, đặc biệt là tình trạng thiếu vật liệu xây dựng. Đồng thời, việc phân cấp mạnh mẽ cho địa phương làm cơ quan chủ quản giúp đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng – vốn được coi là khâu khó nhất trong triển khai dự án.

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, từ chỗ chỉ có khoảng 40km cao tốc trước năm 2020, đến nay khu vực này đã tăng thêm hơn 220km với nhiều dự án trọng điểm như cầu Mỹ Thuận 2, các tuyến Cần Thơ - Hậu Giang, Hậu Giang - Cà Mau…Qua đó từng bước hoàn thiện trục cao tốc xuyên suốt từ Bắc vào Nam.

PGS.TS Trần Chủng, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư công trình giao thông đường bộ Việt Nam (VARSI) cho rằng, một trong những yếu tố then chốt tạo nên bước phát triển vượt bậc là sự ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ.

Các nhà đầu tư, nhà thầu đã nhận thấy rõ cơ hội trong triển khai các dự án cao tốc, sẵn sàng đầu tư thiết bị, máy móc hiện đại, đổi mới công nghệ thi công, thay thế những công nghệ lạc hậu từ hàng chục năm trước.

“Trước đây, người ta thường lo ngại “ở đâu ép tiến độ, ở đó không có chất lượng”. Nhưng thực tế vừa qua cho thấy, dù thúc tiến độ rất cao, các công trình vẫn bảo đảm chất lượng nhờ khoa học công nghệ và quản lý hiện đại”, ông Chủng nói.

Có thể khẳng định, khoa học công nghệ đã tác động trực tiếp, mạnh mẽ vào việc hoàn thành mục tiêu 3.000km cao tốc - điều từng được coi là “bất khả thi”; sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng hành của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ.

“Cơ chế, chính sách phải được mở đường, nguồn lực mới được khơi thông để hoàn thành mục tiêu xây dựng tiếp 2.000km trong giai đoạn 2025-2030. Các dự án cao tốc vừa qua đã cho thấy khi địa phương vào cuộc quyết liệt, điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng đã được tháo gỡ nhanh chóng. Nhà nước cần quan tâm, đồng hành với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp từ tư vấn, nhà đầu tư, nhà thầu, có cơ chế bù đắp, khích lệ cho những nỗ lực, nguồn lực mà các doanh nghiệp bỏ ra vì một mục tiêu chung phát triển hạ tầng đất nước”, ông Chủng nhìn nhận.

Nhìn vào danh sách 27 dự án thành phần vừa hoàn thành và thông xe trong năm 2025, từ các đoạn trên cao tốc Bắc - Nam phía Đông như Bãi Vọt - Hàm Nghi, Quảng Ngãi - Hoài Nhơn cho đến các tuyến Vành đai 3 TP. Hồ Chí Minh hay cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, chúng ta thấy một mạng lưới giao thông đang dần khép kín, liên thông và đồng bộ.

Sự bứt phá này không chỉ giúp giảm chi phí logistics – vốn là rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam bấy lâu nay mà còn góp phần giảm chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, hạn chế tình trạng phát triển cục bộ và manh mún.

Kết thúc hành trình 5 năm đầy thử thách nhưng cũng đầy tự hào, hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam đã thực sự bước sang một trang mới. Những con đường thênh thang không chỉ nối liền những vùng đất, mà còn nối liền những khát vọng, mở đường cho một kỷ nguyên phát triển bền vững, xanh và số hóa cho đất nước trong tương lai.

Ông Phùng Đức Dũng, Trưởng phòng Quản lý đầu tư công tư (Cục Đường bộ Việt Nam) cho biết, huy động nguồn lực PPP vào hạ tầng giao thông chính là giải pháp hiệu quả, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

Bên cạnh đó, năm 2024-2025, Chính phủ đã trình Quốc hội sửa Luật PPP (Luật số 57/2024/QH15 và Luật số 90/2025/QH15) quy định tháo gỡ vướng mắc các dự án đã ký hợp đồng trước thời điểm Luật PPP ban hành, bảo đảm sự bình đẳng, công khai, minh bạch.

"Đây được đánh giá là cơ sở pháp lý rất quan trọng để tháo gỡ cho các dự án BOT, khơi thông nguồn lực, xây dựng niềm tin với các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và là giải pháp quan trọng góp phần hoàn thành mục tiêu 5.000km cao tốc vào năm 2030”, ông Dũng nói.

Tuy nhiên, những “kỳ tích” về hạ tầng giao thông chúng ta đã làm được thời gian qua cũng sẽ tạo “áp lực” lớn đối với ngành trong thời gian tới. Ông Phan Đăng Hoạt, Chủ tịch HĐTV Công ty Cổ phần Tập đoàn Định An cho rằng, khối lượng công việc trong nhiệm kỳ tới dự kiến gấp 4-5 lần nhiệm kỳ vừa qua, đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải lớn gấp 2-3 lần, tăng tốc lên nhiều lần mới có thể đáp ứng khối lượng công việc.

“Các nhà thầu giao thông mong muốn là Đảng và Chính phủ sẽ tạo cho các doanh nghiệp có môi trường làm việc tốt hơn, đặc biệt trong việc đào tạo nhân lực, yếu tố gần như quyết định tới việc thành bại của các dự án trong thời gian tới, bên cạnh đó là việc tháo gỡ các cơ chế bứt phá về nguồn vật tư, vật liệu địa phương; lựa chọn những nhà thầu đủ mạnh, đủ kinh nghiệm thi công. Sau cao tốc Bắc - Nam là bắt tay vào thi công đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Khi hoàn thiện song song 2 loại hình vận tải này, khi đó đất nước ta mới thật sự bứt phá mạnh mẽ về kinh tế xã hội, khơi dậy hết tiềm năng, thế mạnh của đất nước ta”, ông Hoạt nhìn nhận.

Đại hội XIV của Đảng xác định phát triển hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại là một trong ba đột phá chiến lược. Trọng tâm là hoàn thành trên 5.000km cao tốc, đẩy mạnh đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các cảng biển/hàng không quốc tế lớn, và kết nối hạ tầng giao thông đô thị, tạo "mạch máu" thúc đẩy tăng trưởng.

Các ưu tiên cụ thể về hạ tầng giao thông: Tập trung hoàn thành mạng lưới cao tốc quốc gia, tạo sự kết nối liền mạch; Đẩy mạnh dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các tuyến đường sắt đô thị (tại Hà Nội, TP.HCM) và kết nối quốc tế. Phấn đấu hoàn thành tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng trước năm 2030. Các dự án hạ tầng này được xác định là đột phá chiến lược, đóng vai trò "mạch máu" của nền kinh tế, giúp Việt Nam kết nối, phát triển bền vững và thay đổi diện mạo quốc gia.

Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh, thời gian tới, Bộ Xây dựng đặt mục tiêu hoàn thành 5.000km đường cao tốc, đồng thời đầu tư các tuyến đường sắt trọng điểm, nâng công suất cảng biển lên 1,2–1,4 tỷ tấn và năng lực hệ thống hàng không đạt khoảng 275 triệu hành khách.

“Ngành xây dựng quyết tâm phát huy truyền thống "đi trước mở đường", hoàn thành xuất sắc trọng trách phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức đồng bộ, hiện đại, thông minh, kết nối hiệu quả giữa vận tải đường bộ, đường sắt, hàng hải, hàng không và đường thủy nội địa gắn với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ”, Bộ trưởng Trần Hồng Minh khẳng định.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Bộ Xây dựng định hướng chuyển từ “huy động” sang “khơi thông và nuôi dưỡng” nguồn lực. Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP), đặc biệt trong các lĩnh vực cảng biển, hàng không và hạ tầng đô thị.

Với những kết quả đạt được và định hướng rõ ràng trong giai đoạn tới, hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam không chỉ là những tuyến đường kết nối không gian địa lý, mà còn là nền tảng cho một “kỷ nguyên vươn mình” - nơi hạ tầng hiện đại dẫn dắt tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa khát vọng “hóa rồng” phát triển thịnh vượng của đất nước.


Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Năm, 06:06, 16/04/2026

VOV.VN trên Google News