/
--°C

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng không còn là một lựa chọn lý thuyết mà đã trở thành sứ mệnh sinh tồn. Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới, quyết tâm đưa đất nước đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên mỗi năm.

Thước đo quan trọng nhất cho sự thành công của Nghị quyết 57-NQ/TW chính là sự chuyển dịch căn bản từ "lao động giản đơn" sang "lao động sáng tạo" với các mục tiêu cơ bản như: hình thành đội ngũ nông dân số làm chủ công nghệ hiện đại và nông nghiệp chính xác; xây dựng lực lượng công nhân vận hành các thiết bị tiên tiến, tự động hóa cao; thúc đẩy các doanh nghiệp đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo; chuyển đổi tư duy của bộ máy cán bộ từ "tư duy quản lý hành chính" sang "tư duy kiến tạo phát triển".

Kể từ khi ban hành, Nghị quyết 57-NQ/TW đã thực sự tạo ra những chuyển biến tích cực và thực chất, thổi một luồng gió mới vào phương thức quản trị quốc gia cũng như đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số nơi, trên tiến trình chuyển đổi số trong khu vực công hiện nay đang đối mặt với không ít khó khăn.

Trước hết là về mặt kỹ thuật khi hạ tầng dữ liệu còn mang tính cát cứ, thiếu tính liên thông đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương, vô tình tạo ra những "ốc đảo dữ liệu" gây lãng phí nguồn lực và làm chậm quy trình xử lý thủ tục. Trở ngại này càng trở nên phức tạp hơn do rào cản từ yếu tố con người, thể hiện qua tư duy trì trệ và tâm lý ngại thay đổi của một bộ phận cán bộ, công chức khi vẫn giữ thói quen làm việc trên giấy tờ truyền thống hoặc có tâm lý sợ sai, sợ chịu trách nhiệm trước các quy trình công nghệ mới chưa có tiền lệ. Thêm vào đó, hành lang pháp lý chưa hoàn chỉnh, quy định về chia sẻ, bảo mật dữ liệu còn nhiều khoảng trống và thiếu cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm đã khiến chuyển đổi số ở khu vực công chưa thể bứt phá, vô tình làm chậm nhịp điệu chuyển mình của toàn xã hội theo tinh thần của Nghị quyết.

Nói về tính thời điểm và sức bật kinh tế, PGS. TS Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế phân tích: "Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã định hướng chiến lược giúp Việt Nam bắt kịp xu hướng toàn cầu về khoa học và công nghệ. Với trọng tâm là ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo, Nghị quyết có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao kỹ năng lao động và hiệu quả làm việc, tăng giá trị đầu ra trên mỗi lao động. Việc ứng dụng công nghệ số và công nghệ xanh sẽ giúp các doanh nghiệp cải tiến quy trình sản xuất, giảm chi phí vận hành và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia".

Ở góc nhìn dịch chuyển mô hình cạnh tranh toàn cầu, TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh khẳng định: "Để cạnh tranh ở quy mô toàn cầu trong kỷ nguyên mới, Việt Nam cần chấp nhận dịch chuyển mạnh mẽ sang mô hình phát triển dựa trên công nghệ lõi như Trí tuệ nhân tạo (AI), Chip bán dẫn và Dữ liệu lớn (Big Data). Nghị quyết 57 chính là “chìa khóa chiến lược” để tập trung nguồn lực quốc gia vào các ngành công nghệ có khả năng tạo đột phá, tạo ra các không gian phát triển hoàn toàn mới cho cả nước".

Nhìn lại lịch sử hoạch định đường lối, sự ra đời của Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ đặt ra tầm nhìn dài hạn mà còn tái định vị lại toàn bộ hệ sinh thái phát triển. Nhấn mạnh tầm vóc lịch sử này, ông Nguyễn Hữu Thái Hòa - Phó Viện trưởng Viện Trí Việt IVM - VUSTA (Bộ Khoa học và Công nghệ), Chủ tịch VDIC (Trung tâm Thông tin Truyền thông số Việt Nam của Hội Truyền thông Số VDCA) ví von: "Việt Nam đang đứng trước trận Điện Biên Phủ thứ ba của kinh tế số và chuyển đổi số. Bộ tứ Nghị quyết, trong đó Nghị quyết 57 là trụ cột dẫn dắt, đang tạo đòn bẩy thay đổi toàn diện đất nước từ Trung ương đến 34 tỉnh, thành. Tinh thần của Nghị quyết đòi hỏi chúng ta phải chuyển từ nhận thức chung chung sang các hành động thực chiến cấp bách".

Chuyển đổi số quốc gia bao gồm ba trụ cột chính: Chính phủ số, Kinh tế số và Xã hội số. Trong đó, kinh tế số giữ vai trò thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo ra giá trị mới và tăng năng suất lao động. Muốn kinh tế số phát triển, khu vực công và đặc biệt là khối Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) phải đóng vai trò là "người mở đường" và "đầu tàu dẫn dắt".

Số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy, qua tiến trình tái cơ cấu, số lượng DNNN đã giảm mạnh từ hơn 12.000 doanh nghiệp vào những năm 1990 xuống còn khoảng 695 doanh nghiệp vào cuối năm 2025. Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ về số lượng trong tổng số doanh nghiệp toàn quốc, nhưng khối DNNN hiện vẫn nắm giữ nguồn lực kinh tế khổng lồ với tổng tài sản lên tới 4,5 triệu tỷ đồng và đóng góp tới 390.000 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của lực lượng này, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã khẳng định: Kinh tế nhà nước, trong đó có DNNN, là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong kịch bản hướng tới tăng trưởng 2 con số, Nghị quyết 79-NQ/TW giao nhiệm vụ cho kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số làm động lực trung tâm.

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế, hiệu quả hoạt động của khối DNNN vẫn chưa tương xứng với vị trí và nguồn lực cực lớn đang nắm giữ. Năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo chưa thực sự rõ nét; số lượng các DNNN chuyển đổi số thành công và tạo ra mô hình kinh doanh số đột phá hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Minh họa cho bức tranh vừa là điểm sáng vừa ẩn chứa thách thức, ông Lê Anh Dũng - Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phân tích: "Chuyển đổi số trong ngành ngân hàng không phải là một lựa chọn, mà là một yêu cầu tất yếu trước sự phát triển vũ bão của kinh tế số. Chúng tôi quan niệm chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ đơn thuần, mà là sự thay đổi toàn diện và triệt để về tư duy, về văn hóa tổ chức và cách thức triển khai".

Dù ngành ngân hàng đã đạt những bước tiến rất lớn (như hệ thống NAPAS xử lý 25 triệu giao dịch/ngày, 87% người trưởng thành có tài khoản, làm sạch 121 triệu hồ sơ theo Đề án 06), nhưng ông Dũng cũng thẳng thắn chỉ ra: Thách thức phía trước vẫn rất lớn khi rủi ro an ninh mạng ngày càng tinh vi, khung pháp lý chưa bắt kịp công nghệ và bài toán thay đổi văn hóa tổ chức, nhân lực chất lượng cao vẫn gập ghềnh.

Tương tự, dưới góc nhìn của một ngân hàng thương mại nhà nước quy mô lớn, ông Nguyễn Khắc Trung - Trưởng ban Ngân hàng số Agribank cho biết, mặc dù tỷ lệ khách hàng giao dịch qua kênh số tại Agribank đã vượt con số 93%, nhưng áp lực vận hành đối với một DNNN là không nhỏ do phụ thuộc lớn vào thủ tục đầu tư và quy trình phê duyệt công nghệ.

Cùng góc nhìn về tính thực chất, tránh hình thức, ông Nguyễn Đoàn Kết - Phó Tổng Giám đốc Rạng Đông nhấn mạnh: "Chuyển đổi số phải rất cụ thể, chi tiết và mang lại hiệu quả ngay. Nếu nói chuyển đổi số trên trời, trên biển, nhưng thực tế lại không đạt được hiệu quả thì không có tác dụng". Nhận diện đúng thực trạng là tiền đề để tìm ra lời giải. Vậy dưới góc nhìn của các chuyên gia và đại diện các cơ quan quản lý, làm sao để tháo gỡ các "nút thắt" thể chế và thay đổi tư duy quản trị công?

Thực hiện: Phạm Minh Hòa - Văn Ngân - Đồng Toàn

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Năm, 06:00, 19/02/2026

VOV.VN trên Google News