
Trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, nhân lực STEM trở thành điều kiện sống còn. Việt Nam đặt mục tiêu 35% người học theo lĩnh vực này, nhưng khoảng trống chất lượng cao vẫn lớn. Khi AI và bán dẫn bùng nổ, thách thức không chỉ là đào tạo nhiều, mà còn phát hiện đúng, đào tạo trúng và giữ chân nhân tài giữa cạnh tranh khốc liệt.

Nhân lực STEM (lực lượng lao động chuyên môn cao trong các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Việt Nam đặt mục tiêu 35% người học theo lĩnh vực này, song theo TS Đặng Văn Huấn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), “thiếu hụt nhân lực chất lượng cao vẫn là rào cản lớn đối với thu hút đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế”.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn và kinh tế số phát triển nhanh, bài toán không còn dừng ở số lượng mà nằm ở chất lượng và cấu trúc nguồn nhân lực. Thực tế cho thấy, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài vẫn chưa được tổ chức thành một hệ thống đồng bộ.

Đại diện Bộ GD&ĐT cũng thẳng thắn cho rằng, chương trình đào tạo tài năng còn hạn chế, chính sách phát hiện chưa liên tục, trong khi liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu, sử dụng còn lỏng lẻo.
Ở góc nhìn chính sách, TS. Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học cho rằng, vấn đề cốt lõi bắt đầu từ cách hiểu về “nhân tài công nghệ”.
“Chúng ta thường nghĩ đến nhân tài như một số ít nhà khoa học xuất sắc. Điều đó không sai, nhưng chưa đủ. Một đất nước không thể phát triển chỉ dựa vào vài trăm nhà khoa học đỉnh cao”, ông nói. Dẫn chứng từ thực tế, ông nhắc tới những nhà khoa học tầm cỡ như GS Ngô Bảo Châu, nhưng nhấn mạnh: “Chỉ có vài trăm nhà khoa học xuất sắc thì chưa đủ để đưa đất nước phát triển mạnh, nhất là trong bối cảnh hướng tới kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Theo ông Khuyến, một hệ thống nhân lực hiệu quả phải có cơ cấu hợp lý, gồm hai luồng chính: học thuật - hàn lâm và ứng dụng - công nghệ. “Xu hướng hiện nay là gộp tất cả lại và gọi chung là nhân tài, nhưng thực chất đây là hai nhóm khác nhau. Nếu không phân biệt rõ và xây dựng được cơ cấu hợp lý thì rất khó thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Chính sự thiếu phân định này dẫn đến nghịch lý: nhân tài không hẳn thiếu, nhưng chưa được nhận diện và sử dụng đúng. Nhiều học sinh, sinh viên có tiềm năng chưa được đặt vào môi trường đào tạo phù hợp, trong khi các chương trình tinh hoa còn hạn chế về quy mô và cơ chế.
Theo các chuyên gia, để giải bài toán này, cần chuyển từ tư duy “tìm kiếm nhân tài” sang “xây dựng hệ sinh thái phát hiện nhân tài”, với việc phát hiện từ sớm, theo dõi liên tục và đầu tư có trọng điểm. Các “luồng đào tạo tinh hoa” xuyên suốt từ phổ thông đến sau đại học sẽ đóng vai trò then chốt trong việc nuôi dưỡng nhân tài một cách bài bản.


Nếu phát hiện là điểm khởi đầu thì đào tạo chính là khâu quyết định chất lượng nhân tài. Tuy nhiên, trong bối cảnh công nghệ, đặc biệt là AI, thay đổi với tốc độ chóng mặt, giáo dục đại học đang phải đối mặt với áp lực đổi mới chưa từng có.
Những năm gần đây, quy mô đào tạo STEM tại Việt Nam tăng nhanh, với số lượng sinh viên tiệm cận 200.000. Nhiều lĩnh vực mới như vi mạch bán dẫn đã có sự tham gia của hơn 150 cơ sở giáo dục.
Tuy nhiên, theo TS. Lê Viết Khuyến, vấn đề không nằm ở quy mô mà ở cấu trúc và chất lượng đào tạo. Ông chỉ ra rằng, tại nhiều quốc gia phát triển, nhân lực công nghệ lõi thường được đào tạo trong các học viện công nghệ chuyên sâu - nơi gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu và thực tiễn sản xuất.


Trong khi đó, tại Việt Nam, mô hình này chưa được định vị rõ ràng. “Chúng ta chủ yếu chú ý đến các trường đại học sản sinh tri thức, đánh giá dựa trên số lượng bài báo quốc tế để xếp hạng, nhưng lại ít quan tâm đến nơi tạo ra công nghệ, bằng sáng chế hay sản phẩm cụ thể. Hệ quả là hoạt động đào tạo và nghiên cứu vẫn nặng về học thuật, thiếu gắn kết với nhu cầu công nghiệp. Khoa học không gắn với đào tạo, doanh nghiệp sản xuất cũng không gắn với khoa học và đào tạo. Ba mảng này tồn tại rời rạc, liên kết yếu", ông thẳng thắn nhìn nhận.
Ở cấp cơ sở đào tạo, những nỗ lực đổi mới đang được triển khai mạnh mẽ. PGS.TS Nguyễn Phong Điền - Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, các trường tập trung vào hai khâu cốt lõi là tuyển sinh và chương trình đào tạo.

Ở đầu vào, các phương thức như xét tuyển tài năng, thi đánh giá tư duy được duy trì với tiêu chuẩn cao nhằm thu hút học sinh giỏi, đặc biệt là học sinh đạt giải quốc gia và học sinh trường chuyên.
Ở đầu ra, cách tiếp cận đào tạo đã thay đổi rõ rệt. “Chúng tôi không chỉ thiết kế môn học, mà xây dựng cấu trúc đào tạo mở, gắn với thực tiễn và công nghệ mới. Nội dung liên tục được cập nhật theo sự phát triển của AI và kinh tế số, đồng thời tăng cường học theo dự án, học trong phòng thí nghiệm và hợp tác với doanh nghiệp để sinh viên được làm việc thật ngay từ khi còn trên ghế nhà trường”, ông Điền cho biết.
Một điểm đáng chú ý là các chương trình đào tạo tài năng được tổ chức theo quy mô nhỏ, khoảng 25-30 sinh viên mỗi lớp, nhằm cá thể hóa lộ trình học tập và tăng cường tương tác. Tuy nhiên, theo ông, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở tốc độ thay đổi của công nghệ.

Ở góc nhìn khác, GS.TS Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh, việc “trao quyền cho sinh viên” như một hướng đi cốt lõi trong đào tạo nhân tài. Theo ông, sinh viên cần được tham gia trực tiếp vào nghiên cứu, giải quyết các bài toán thực tế ngay từ sớm.
“Ngay từ năm nhất, năm hai, sinh viên đã được tham gia vào các nhóm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm. Các em không chỉ học để biết, mà học để làm, để kiểm chứng và sáng tạo”, ông Trình nói. Theo ông, cách tiếp cận này giúp người học hình thành tư duy độc lập, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ tri thức - những yếu tố cốt lõi của nhân tài công nghệ trong thời đại mới.

Nếu phát hiện và đào tạo là nền tảng, thì thu hút và giữ chân nhân tài là yếu tố quyết định thành công. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhân lực chất lượng cao có nhiều cơ hội lựa chọn, khiến cạnh tranh ngày càng gay gắt. “Hiện tượng “chảy máu chất xám” và lãng phí nhân tài vẫn còn hiện hữu”, GS Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cảnh báo.
Theo TS. Lê Viết Khuyến, điểm yếu lớn nhất hiện nay nằm ở sự thiếu gắn kết giữa các chủ thể trong hệ thống. “Chúng ta nói nhiều về liên kết “ba nhà”: nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp, nhưng cơ chế cụ thể để phối hợp vẫn thiếu và yếu. Khi chưa hình thành được một hệ sinh thái chung thì rất khó thu hút và giữ chân nhân tài công nghệ”. Ông cũng nhấn mạnh, yêu cầu gắn kết đào tạo với sản xuất đã được đặt ra từ nhiều thập kỷ trước, nhưng đến nay vẫn chưa được thực hiện một cách thực chất.

Từ góc nhìn quốc tế, GS David Trần - Đại học Massachusetts Boston (Mỹ) cho rằng, cần xây dựng hệ sinh thái nhân tài với sự tham gia của Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, đồng thời có cách tiếp cận linh hoạt hơn với trí thức Việt Nam ở nước ngoài, không nhất thiết phải “hồi hương toàn phần”.
Trong lĩnh vực bán dẫn - một trong những ngành công nghiệp chiến lược, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn khi thị trường toàn cầu dự kiến đạt 1.000 tỷ USD vào năm 2030, với nhu cầu hơn 1 triệu lao động. Để tận dụng cơ hội này, mục tiêu đào tạo hàng chục nghìn kỹ sư đã được đặt ra, song để thực sự “định vị” trên bản đồ nhân lực toàn cầu, cần một chiến lược tổng thể, từ đào tạo, đầu tư hạ tầng đến chính sách đãi ngộ và kết nối hệ sinh thái.

Các chuyên gia cho rằng, giữ chân nhân tài không thể chỉ trông vào thu nhập, mà cần tạo dựng một môi trường làm việc cởi mở - nơi người tài được trao quyền, được tin tưởng và có không gian phát triển dài hạn.
Khi hệ thống đủ tinh nhạy để nhận diện sớm, đủ linh hoạt để cá thể hóa đào tạo và gắn kết với thực tiễn, nhân tài sẽ không còn là “ẩn số”. Khi đó, Việt Nam không chỉ có thêm người giỏi, mà còn hình thành được một lực lượng đủ năng lực dẫn dắt các ngành công nghệ lõi, tạo ra giá trị mới và từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ công nghệ toàn cầu.

Thực hiện: Thu Hằng - Chung Thủy
Đồ họa: Đồng Toàn

Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s