Hồ Chí Minh và con đường giải phóng dân tộc

Bài 1: Tìm đường đi cho dân tộc

Đây là sự khởi đầu đúng đắn để từ đó Người đã dẫn dắt ngọn cờ cách mạng của dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cách đây 100 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước nồng nàn, lên đường bôn ba 5 châu, 4 biển, tìm con đường giải phóng dân tộc.

Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi

Với ý chí, nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu cho hành trình tìm đường giải phóng dân tộc với chân làm thuê trên tàu Đô đốc L'Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc vào tháng 6/1911, ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác đã làm thế nào để có được độc lập, tự do, rồi "trở về giúp đồng bào mình". 30 năm sau, Người trở về, tạo nên sự thay đổi của vận mệnh và tương lai cả dân tộc.

Theo ông Bùi Kim Hồng - Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch, quyết định ra đi tìm đường cứu nước là sự khởi đầu một con đường đi hoàn toàn đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Người trực tiếp sang miền đất của chính kẻ thù đang cai trị dân tộc mình để hiểu được bản chất của vấn đề, bản chất của xâm lược, và khẳng định được rằng, ở bất cứ nước nào, người dân nô lệ cũng đều phải sống cuộc đời lầm than. Muốn giải phóng được dân nô lệ phải giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đấy không chỉ là con đường đối với dân tộc Việt Nam, mà là con đường đi của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Sau năm 1911, trong vòng 10 năm tiếp theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Với ý chí kiên cường và lòng yêu nước nồng nàn, Người đã sống cuộc đời của người lao động, hòa mình vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức bóc lột ở thuộc địa.

Qua những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm thực tế đó, chủ nghĩa yêu nước ở Người có những chuyển biến mới. Sự đồng cảm với đồng bào mình đã được nâng lên thành sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng cảnh ngộ bị áp bức như dân tộc mình. Quá trình thâm nhập vào những xã hội văn minh rộng lớn đã giúp Người nhận thức rõ hơn, khái quát hơn diện mạo của kẻ thù: không chỉ đối với thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc nói chung.

Với tinh thần ham hiểu biết và học hỏi, với tư duy độc lập sáng tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm hình thành chí hướng lớn lao và quyết tâm tìm con đường đi cho riêng mình. Người trân trọng và khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của những chí sĩ yêu nước trước đó, nhưng không đi theo con đường của các bậc tiền bối đã đi, mà có suy nghĩ, cách thức khác. Trong 30 năm xa Tổ quốc, Người mất gần 10 năm để tìm lời giải cho bài toán khó: làm thế nào để giải phóng Tổ quốc và nhân dân thoát khỏi ách nô lệ của thực dân, để nước nhà được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc.

PGS, TS Bùi Đình Phong (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) phân tích: “Trong 10 năm ấy, Bác đã phải nghiên cứu, khảo nghiệm, chắt lọc đối chiếu từ cách mạng tư sản pháp 1779, cách mạng tư sản Mỹ 1776... Cuối cùng khi đọc Luận cương của Lênin, Người mới tìm thấy được lời giải thực sự cần thiết. Như vậy, Bác Hồ đến với chân lý cách mạng của thời đại không chỉ  để giải quyết nhu cầu giải phóng dân tộc của cách mạng Việt Nam mà còn đáp ứng cả xu thế của thời đại. Tức là phong trào giải phóng dân tộc phải đi vào quỹ đạo của phong trào cách mạng vô sản”.

Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước

Nguyễn Tất Thành nhận làm bồi tàu, thủy thủ để có điều kiện được tiến hành cuộc khảo sát rộng lớn thế giới tư bản, nhưng tâm hồn Người luôn hướng về Tổ quốc, luôn đau đáu về mục tiêu cao cả: giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ cảng Nhà Rồng, Người đã đi qua Singapore, Colombo, vượt Hồng hải, qua Suez đến cảng Saïd, Marseille, Le Havre. Từ Pháp, Người trở lại Sài Gòn, rồi đi vòng quanh châu Phi, qua các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Algeria, Tunisia, trở lại các cửa biển Đông Phi, vòng qua Congo, Dahomey, Guinée, Sénégal, vượt Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, vòng xuống Nam Mỹ, tới Argentina… Sau đó, trở lại Anh, về Pháp, qua Đức, tới Liên Xô, về Trung Quốc, sang Thái Lan...

Suốt thời thanh niên, Nguyễn Tất Thành vừa lao động kiếm sống, vừa tích luỹ tri thức và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội ở các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục.

Đặc biệt, từ năm 1921 - 1923, giữa mùa đông giá lạnh ở Paris, căn phòng không điện, không nước trong ngôi nhà số 9, ngõ Compoint đã nuôi dưỡng một con người có trái tim luôn khát khao cháy bỏng để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Căn phòng này còn là nơi tụ họp rất nhiều người Việt Nam yêu nước đang sinh sống tại Paris để tìm ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam.

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà cách mạng đương thời có điều kiện đi nhiều, có một vốn hiểu biết khá tường tận về chủ nghĩa đế quốc và hệ thống thuộc địa của chúng. Bản thân là người dân thuộc điạ, ra nước ngoài hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của vô sản ở chính quốc, có gần 10 năm bôn ba, khảo sát các thuộc địa của đế quốc Anh, Pháp, Đức - từ châu Á, châu Phi đến châu Mỹ La tinh, nên Người có hiểu biết về bản chất chung và màu sắc riêng của mỗi nước đế quốc cũng như trình độ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội khác nhau giữa các nước thuộc địa. Nhờ vốn hiểu biết thực tế đó, cùng với một năng lực tư duy độc lập, tự chủ, đã giúp Người không rơi vào các khuynh hướng cơ hội nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận một cách giáo điều những công thức lý luận không phù hợp với thực tế các nước thuộc địa, nhất là ở phương Đông.

Cảm phục trước cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn Australia, Allan Asbolt đã viết: "Một trong những nét nổi bật về cuộc đời Hồ Chí Minh là Người đã sống nhiều năm ở nước ngoài - ở châu Âu, Anh, Liên Xô, Mỹ và Trung Quốc, nhưng Người không có tham vọng cá nhân, phù phiếm; không cố công để trở thành một nhân vật xuất chúng, theo ngôn ngữ của các nhà xã hội tư bản. Người dành thời gian chủ yếu cho việc nghiên cứu và học hỏi, nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong thực tế có phần dựa vào kinh nghiệm hàng ngày của bản thân trong giai cấp công nhân. Người luôn luôn có suy nghĩ làm thế nào để giải phóng nhân dân nước mình khỏi ách đô hộ và bóc lột thực dân. Người cũng nhận thức sâu sắc rằng cần phải kết hợp sức mạnh chiến đấu của ý thức dân tộc Việt Nam đang trỗi dậy với những mục tiêu đồng cảm về cơ bản là hòa bình và nhân đạo của chủ nghĩa xã hội. Trong gần 3 thập kỷ, Người đã sống và làm việc ở nước ngoài nhưng về ý thức, Người không hề xa Tổ quốc"./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.