“Bốn kiên định” là “mỏ neo” vững chắc giúp con thuyền cách mạng không chệch hướng
VOV.VN - “Bốn kiên định” không chỉ là nguyên tắc nền tảng mà còn là “mỏ neo” giữ vững định hướng phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán “bốn kiên định” sẽ nâng cao sức đề kháng của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các luận điệu sai trái, củng cố niềm tin xã hội.
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, PGS.TS Hoàng Thị Thắm, Trưởng bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học Thương mại, cho rằng trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, cạnh tranh giữa các mô hình phát triển ngày càng gay gắt, việc giữ vững nền tảng tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội càng trở nên quan trọng.
“Bốn kiên định” được ví như “mỏ neo” giúp con thuyền cách mạng không chệch hướng, đồng thời tạo điểm tựa niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân. Việc cụ thể hóa các nội dung này trong thực tiễn sẽ góp phần gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và hành động, qua đó củng cố nền tảng, tạo động lực để đất nước vươn lên trong giai đoạn phát triển mới.
Càng đổi mới, càng hội nhập, càng vươn mình thì càng phải giữ vững gốc rễ
PV: Phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, Tổng Bí thư yêu cầu tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán "bốn kiên định". Xin PGS cho biết, thông điệp mà Tổng Bí thư gửi gắm qua yêu cầu này là gì?
PGS.TS Hoàng Thị Thắm: "Bốn kiên định" mà Tổng Bí thư nói đến là: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "bốn kiên định" khẳng định sự quyết tâm của Đảng trong hành trình đưa đất nước đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn trong gần một thế kỷ. Tổng Bí thư đã gửi thông điệp cực kỳ đanh thép: Càng đổi mới, càng hội nhập, càng vươn mình thì càng phải giữ vững gốc rễ.
"Bốn kiên định" chính là "mỏ neo" vững chắc giúp con thuyền cách mạng không chệch hướng, đồng thời là điểm tựa niềm tin để toàn Đảng, toàn dân vững bước trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh thế giới hiện nay với những xung đột địa chính trị phức tạp và sự cạnh tranh gay gắt giữa các mô hình quản trị, việc cụ thể hóa "bốn kiên định" chính là xác lập một "bản chất chính trị bất biến". Nó giúp Đảng ta không bị chệch hướng, không trôi vào tình trạng "đổi màu" hay "tự diễn biến" trước các trào lưu tư tưởng ngoại lai.
Thực tế lịch sử hơn 40 năm đổi mới cho thấy, mỗi khi đất nước đứng trước thách thức như khủng hoảng kinh tế hay đại dịch, thì "bốn kiên định" đã giúp Đảng ta vững tay chèo lái đưa đất nước vượt qua mọi thách thức, khó khăn.
PV: Thưa PGS, việc cụ thể hóa "bốn kiên định" có ý nghĩa như thế nào trong việc giữ vững nền tảng tư tưởng và định hướng phát triển của Đảng trong bối cảnh hiện nay?
PGS.TS Hoàng Thị Thắm: Việc cụ thể hóa "bốn kiên định" tạo ra sự thống nhất cao giữa lý luận và hành động thực tiễn. Tổng Bí thư đã nhấn mạnh: Kên định không có nghĩa là giáo điều, bảo thủ. Việc cụ thể hóa "bốn kiên định" trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng chính là vận dụng sáng tạo các nguyên lý cơ bản để giải quyết những bài toán thực tiễn của kỷ nguyên số và kinh tế xanh. Nó bảo đảm cho công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay và tầm nhìn tương lai là một dòng chảy liên tục, có tính kế thừa.
Nếu không kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta sẽ không thể có những chính sách an sinh xã hội bao trùm như đã được nêu ra tại Đại hội XIV của Đảng.
Việc cụ thể hóa "bốn kiên định" là "lá chắn thép" bảo vệ Đảng trước các luận điệu xuyên tạc. Thực tế hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên công kích vào nền tảng tư tưởng của Đảng, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, hoặc cho rằng chúng ta chỉ "khoác áo" xã hội chủ nghĩa nhưng thực chất là tư bản.
Vì vậy, việc cụ thể hóa "bốn kiên định" chính là câu trả lời đanh thép bằng thực tiễn. Những thành tựu về phát triển kinh tế, đối ngoại, văn hóa và đời sống nhân dân được nâng cao chính là sản phẩm của việc kiên định đường lối đúng đắn. Nó tạo ra "sức đề kháng" cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ, sinh viên trước các thông tin xấu độc.
Việc cụ thể hóa "bốn kiên định" còn giúp định hướng cho kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tổng Bí thư chỉ rõ: Muốn vươn mình thì "chân phải vững", và bốn kiên định chính là "đôi chân vững chãi" đó.
Trong dòng chảy lịch sử phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi sự điều chỉnh về chủ trương, đường lối, chính sách - từ kinh tế thị trường đến hội nhập - đều xoay quanh trục "bốn kiên định". Đây chính là kim chỉ nam để Đảng tự tin mở cửa mà không đánh mất chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, việc cụ thể hóa "bốn kiên định" không phải là những khẩu hiệu khô khan, mà là "bộ gen chính trị" của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc cụ thể hóa trong giai đoạn Đại hội XIV chính là cách để bảo đảm rằng, sự phồn vinh của quốc gia phải gắn liền với hạnh phúc của nhân dân và sự bền vững của chế độ.
Làm cho lý luận trở nên sống động và có sức thuyết phục bằng chính cuộc sống ấm no của nhân dân
PV: Trong "bốn kiên định" có kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay cần được cụ thể hóa ra sao để tránh giáo điều, hình thức, thưa bà?
PGS.TS Hoàng Thị Thắm: Đây là một câu hỏi chạm đúng "điểm nóng" của công tác lý luận hiện nay. Trong nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng vào thực tiễn, chúng ta thường gặp một nghịch lý: Nếu chỉ nhắc lại nguyên văn các luận điểm kinh điển của thế kỷ XX thì rất dễ trở nên xa rời thực tiễn. Vì vậy, để tránh giáo điều, hình thức, việc vận dụng sáng tạo cần được cụ thể hóa qua ba phương diện.
Thứ nhất, vận dụng bằng "hơi thở của thực tiễn", tức là lấy thực tiễn làm thước đo. Cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật. Do đó, vận dụng sáng tạo không phải là ép thực tiễn vào khuôn khổ lý thuyết, mà là dùng phương pháp luận Mác-xít để giải quyết những vấn đề mới nảy sinh.
PGS.TS Hoàng Thị Thắm: "Sự sáng tạo của Đảng tại Đại hội XIV chính là làm cho lý luận trở nên sống động và có sức thuyết phục bằng chính cuộc sống ấm no của nhân dân".
Việc kiên định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số chính là sự phát triển sáng tạo lý luận về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong thời đại 4.0. Tránh giáo điều cũng có nghĩa là thay vì tranh luận khái niệm trừu tượng, Đảng tập trung vào hiệu quả: Làm thế nào để dân giàu, nước mạnh. Nếu chính sách mang lại hạnh phúc cho nhân dân, đó chính là sự vận dụng đúng đắn nhất tư tưởng Hồ Chí Minh "dân là gốc".
Thứ hai, chuyển hóa lý luận thành "chỉ số hạnh phúc", lấy con người làm trung tâm của phát triển. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội rất giản dị: Làm sao để ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành. Trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, sự sáng tạo nằm ở việc chuyển hóa lý luận thành các mục tiêu an sinh xã hội cụ thể, như đưa chỉ số hạnh phúc và an ninh con người vào văn kiện.
Đây là bước phát triển cao của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh: Không chỉ nhìn vào GDP mà còn nhìn vào chất lượng sống, văn hóa, y tế, môi trường. Đồng thời, Đảng dám nhìn thẳng vào các tồn tại như khoảng cách giàu nghèo, lãng phí, tham nhũng để điều chỉnh chính sách, thay vì chỉ "tô hồng" thành tích.
Thứ ba, nắm vững phương pháp "dĩ bất biến, ứng vạn biến" trong quản trị quốc gia hiện đại. Cái "bất biến" là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cái "vạn biến" là phương thức điều hành.
Đảng đã cụ thể hóa điều này bằng việc chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chống lãng phí và cải cách bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một chính phủ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đồng thời, Đảng không rập khuôn mô hình của bất kỳ quốc gia nào, mà xây dựng một mô hình quản trị mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, lấy văn hóa làm động lực nội sinh cho phát triển đất nước.
Đặc biệt, dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu và giảng dạy, tôi muốn nhấn mạnh rằng để tránh giáo điều, chúng ta cần khẳng định: Để có một Việt Nam đang vươn mình mạnh mẽ như hôm nay, mỗi bước đi của Đảng đều là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn qua hơn 96 năm ra đời và lãnh đạo cách mạng kể từ năm 1930.
Từ năm 1986 đến nay, việc kiên trì mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cho thấy đây không phải là sự từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là vận dụng đúng quy luật khách quan nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, hướng tới mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản là sự phát triển tự do và toàn diện của con người.
Như vậy có thể thấy, nếu lý luận không giải thích được những chuyển biến của đời sống thì lý luận đó sẽ trở nên "chết". Sự sáng tạo của Đảng tại Đại hội XIV chính là làm cho lý luận trở nên sống động và có sức thuyết phục bằng chính cuộc sống ấm no của nhân dân.
PV: Xin cảm ơn PGS.TS Hoàng Thị Thắm!