Cam kết trước cử tri không thể là “lời nói gió bay"
VOV.VN - Trong mỗi mùa bầu cử, lời cam kết trước cử tri thường được đưa ra với nhiều kỳ vọng nhưng lại khó kiểm chứng trong thực tế. Vì vậy, yêu cầu minh bạch hóa, công khai tiến độ thực hiện và tăng cường trách nhiệm giải trình trở thành điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.
TS Lê Thương Huyền, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã chia sẻ như vậy trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam.
Cam kết không định lượng được thì cử tri không có thước đo để giám sát
PV: Thưa TS, có ý kiến cử tri cho rằng việc giám sát kết quả thực hiện cam kết của đại biểu hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Bà nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
TS Lê Thương Huyền: Đó là một thực trạng cần nhìn thẳng, nói thật. Mỗi mùa bầu cử, tại các cuộc tiếp xúc cử tri lại xuất hiện những cam kết về dân sinh, về quyền lợi cộng đồng. Nhưng sau đó, không ít lời hứa dần chìm vào quên lãng theo guồng quay của nhiệm kỳ. Cử tri không có đủ công cụ kiểm chứng những điều đại biểu hứa đã đi đến đâu.
Sự khó kiểm chứng này bắt nguồn từ nhiều tầng nguyên nhân. Phần lớn chương trình hành động của ứng cử viên được xây dựng theo lối hoa mỹ về ngôn từ nhưng mờ nhạt về mục tiêu cụ thể, thiếu lộ trình và thiếu chỉ số đo lường. Khi cam kết “không định lượng được, không nói rõ sẽ làm gì, khi nào xong, ai chịu trách nhiệm” thì dù muốn giám sát, cử tri cũng không có thước đo trong tay.
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý vẫn bỏ ngỏ "khoảng trống hậu bầu cử": Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi năm 2020 chưa bắt buộc đại biểu định kỳ đối chiếu công khai việc thực hiện so với chương trình hành động đã cam kết; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 cũng chưa có cơ chế giám sát theo chiều ngược từ cử tri lên để đánh giá từng đại biểu. Và cũng chưa có cơ chế về trách nhiệm giải trình của đại biểu dân cử nếu kết quả sau đối chiếu không đạt được các mục tiêu đề ra.
PV: Theo như TS vừa chia sẻ, hệ thống pháp lý hiện nay chưa đủ cơ sở để đánh giá và giám sát cam kết của đại biểu sau khi trúng cử? TS có thể chia sẻ thêm về điều này?
TS Lê Thương Huyền: Hành lang pháp lý hiện hành còn nhiều khoảng trống chưa được lấp đầy. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tập trung chủ yếu vào giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước - cơ chế giám sát theo chiều ngang, từ Quốc hội đối với Chính phủ, chứ chưa có cơ chế giám sát theo chiều dọc, từ cử tri ngược lên để đánh giá cam kết cá nhân của đại biểu. Đây là điểm mù (vùng xám) đáng lo ngại trong kiến trúc pháp lý về kiểm soát quyền lực.
Trong khi đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực bằng các thiết chế dân chủ, coi đây là nhiệm vụ cốt lõi, không thể lùi bước. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng kế thừa và đẩy mạnh tinh thần đó khi nhấn mạnh việc "bảo đảm trách nhiệm giải trình của cơ quan Đảng, nhà nước trước nhân dân. Đây là những định hướng rất đúng đắn, nhưng muốn biến thành hiện thực, cần có văn bản pháp luật cụ thể hóa với đầy đủ cơ chế thực thi, không thể chỉ dừng lại ở tinh thần nghị quyết.
Giám sát thực hiện cam kết là công cụ quản trị thiết thực
PV: Vậy theo TS có nên công khai tiến độ thực hiện chương trình hành động của đại biểu sau khi trúng cử hay không và việc công khai này nên được thực hiện theo hình thức nào?
TS Lê Thương Huyền: Không chỉ nên làm, đây còn là yêu cầu tất yếu trong một nhà nước pháp quyền mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân theo tinh thần Điều 2 Hiến pháp năm 2013. Và khi nói đến công khai, tôi muốn nhấn mạnh đây phải là sự công khai chủ động, có hệ thống và có tính pháp lý bắt buộc, không phải kiểu "ban phát" thông tin tùy thuộc vào thiện chí của từng đại biểu.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra yêu cầu rõ ràng về việc xây dựng và thực hiện cơ chế bảo đảm phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Đây là kim chỉ nam để chúng ta thiết kế cơ chế công khai chương trình hành động của đại biểu. Hướng dẫn quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cũng đề ra phương châm "3 công khai" rất đáng học hỏi: công khai mục tiêu, công khai tiến độ, công khai kết quả và cập nhật định kỳ hằng tháng, hằng quý để toàn dân theo dõi, giám sát.
Về hình thức cụ thể, tôi cho rằng cần tiếp cận đa tầng. Trước tiên, các cuộc tiếp xúc cử tri định kỳ theo Luật Tổ chức Quốc hội cần được nâng chất một cách thực sự, thoát khỏi hình thức đọc báo cáo một chiều để trở thành diễn đàn đối thoại mà ở đó đại biểu phải trình bày rõ ràng: Đã thực hiện được bao nhiêu phần trăm chương trình hành động đã hứa, phần còn lại đang ở đâu và vì sao.
Thứ hai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với chức năng giám sát và phản biện xã hội được quy định tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 cần đóng vai trò chủ động hơn trong việc độc lập tổng hợp, đánh giá và công bố kết quả thực hiện cam kết của từng đại biểu.
Thứ ba, và có lẽ là đột phá quan trọng nhất trong kỷ nguyên số, là cần xây dựng cổng thông tin điện tử minh bạch - nơi mỗi cử tri, dù ở đâu, dù lúc nào, cũng có thể tra cứu lịch sử hoạt động của đại biểu mình đã bầu: số lần phát biểu tại nghị trường, tỷ lệ tham dự kỳ họp, các kiến nghị đã đề xuất và tiến trình xử lý kiến nghị đó ra sao. Nền tảng kỹ thuật số đã sẵn sàng, điều còn thiếu là quyết tâm thể chế hóa nó thành nghĩa vụ pháp lý.
PV: Việc giám sát thực hiện chương trình hành động của đại biểu sau khi trúng cử có ý nghĩa như thế nào đối với hoạt động của cơ quan dân cử, thưa TS?
TS Lê Thương Huyền: Đây là câu hỏi chạm đến trái tim của nền dân chủ đại diện.
Nếu ví cuộc bầu cử như thời điểm người dân ký tờ séc trao quyền lực, thì giám sát cam kết chính là cơ chế để kiểm tra xem tờ séc đó có được thanh toán đúng hạn và đúng giá trị hay không. Không có cơ chế ấy, quyền lực vẫn được trao nhưng không có gì bảo đảm nó được dùng đúng mục đích.
Ở tầng sâu hơn, đây là vấn đề của chất lượng đại diện. Một cơ quan dân cử thực chất không thể được xây đắp chỉ bằng những buổi họp đầy đủ thành phần hay những nghị quyết được thông qua với tỷ lệ cao. Nó đòi hỏi mỗi đại biểu phải hành xử như người được ủy thác, không phải chỉ trong ngày bầu cử, mà trong từng phiên chất vấn, từng lần tiếp dân, từng lần giơ tay biểu quyết trước những vấn đề hệ trọng. Khi cam kết của đại biểu được theo dõi và đối chiếu thường xuyên, áp lực của trách nhiệm sẽ thay thế cho áp lực của hình thức, và đó chính là điều kiện để nghị trường trở thành nơi tranh luận thực chất chứ không chỉ là sân khấu của những lời phát biểu đẹp đẽ.
Điều này còn có ý nghĩa thể chế đặc biệt trong nhiệm kỳ 2026 - 2031, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp vừa được triển khai, không còn cấp huyện làm trung gian. Quyết định của Hội đồng nhân dân từ nay chạm thẳng vào đời sống người dân mà không qua bộ lọc nào khác. Điều đó khiến chất lượng của từng đại biểu và trách nhiệm giải trình của họ trước cử tri trở nên có trọng lượng hơn bao giờ hết. Giám sát cam kết lúc này không còn là câu chuyện của lý thuyết dân chủ - đó là công cụ quản trị thiết thực, ảnh hưởng trực tiếp đến từng quyết sách về ngân sách, dịch vụ công và phát triển địa phương.
Cuối cùng, nhìn ở tầm xa hơn, giám sát cam kết còn là liều thuốc phòng ngừa cho căn bệnh lâu năm của không ít cơ quan dân cử: căn bệnh hình thức. Khi cử tri có thể hỏi và đại biểu phải trả lời, không phải bằng lời hứa mới mà bằng kết quả cụ thể thì ranh giới giữa đại biểu xứng đáng và đại biểu chỉ giỏi vận động bầu cử sẽ trở nên rõ ràng. Và chính sự rõ ràng đó, theo thời gian, sẽ tự nhiên nâng cao chất lượng của cả hệ thống vì trước mắt cử tri không ai muốn đứng ở phía bên kia của ranh giới đó.
PV: Cảm ơn chia sẻ của TS!