Cần thêm những điều, khoản cụ thể hơn
Những vấn đề như: đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, chọn đối tượng nào và mức quy định thuế ra sao là vấn đề được các đại biểu quan tâm thảo luận trong sáng nay
Sáng 21/10, Quốc hội làm việc tại Hội trường. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên điều khiển phiên họp. Quốc hội nghe Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính, ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển trình bày Báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Thuế bảo vệ môi trường (BVMT). Tiếp đó, các đại biểu thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật thuế này.
Dự án Luật Thuế BVMT đã được Quốc hội Khóa XII cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7. Sau kỳ họp, UBTVQH đã chỉ đạo Cơ quan chủ trì thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, lấy ý kiến tại các đoàn ĐBQH, ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học có liên quan và đại diện cử tri để hoàn chỉnh Dự án Luật.
Người tiêu dùng là đối tượng chịu thuế
Tại Kỳ họp trước, có ý kiến đề nghị làm rõ, thuế BVMT áp dụng đối với người tạo ra hàng hóa (nhà sản xuất) hay áp dụng đối với người tiêu dùng hàng hóa đó và cho rằng, người sản xuất hàng hóa gây ô nhiễm phải là người chịu thuế chứ không phải là người tiêu dùng.
Về vấn đề này, trong báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của UBTVQH cho rằng, Thuế BVMT là loại thuế thu vào sản phẩm khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Thuế được tính vào giá hàng hoá; người tiêu dùng trả thuế trong giá vào thời điểm mua hàng hoá. Thuế BVMT được xây dựng trên nguyên tắc người nào sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm thì phải nộp thuế.
Theo UBTVQH, trên thực tế, bản thân người tiêu dùng là chủ thể gây ô nhiễm do sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm. Xuất phát từ đặc điểm của thuế BVMT, mục đích của việc áp dụng thuế là định hướng, khuyến cáo người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa và thể hiện sự điều tiết của Nhà nước nhằm hạn chế sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững. Do vậy, việc quy định người tiêu dùng là người chịu thuế; người sản xuất, người nhập khẩu là người nộp thuế là hợp lý.
Cụ thể hơn các điều khoản của dự thảo Luật
Thảo luận về dự thảo Luật này tại Kỳ họp thứ 7, nhiều ĐBQH cho rằng, một số quy định trong Dự thảo luật còn chung chung, chưa bảo đảm tính cụ thể (như về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế...). Vì vậy, tiếp thu ý kiến ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý Dự thảo Luật theo hướng rà soát, luật hóa tối đa các quy định nhằm bảo đảm tính cụ thể, minh bạch, ổn định, phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền ban hành chính sách thuế.
Cụ thể, dự thảo Luật trình Quốc hội lần này đã bổ sung quy định chi tiết về đối tượng chịu thuế tại Điều 3 của dự thảo Luật, trong đó xác định rõ từng mặt hàng chịu thuế (ví dụ, trong nhóm than, quy định rõ than chịu thuế là than nâu, than đá, than antraxit, than mỡ; không quy định chung là “than” như trong dự thảo Luật đã trình Quốc hội tại kỳ họp trước; Quy định rõ bản chất của một số mặt hàng như dung dịch HCFC, loại túi nylon thuộc diện chịu thuế tại Điều 2 của Dự thảo Luật...; Quy định cụ thể về người nộp thuế trong trường hợp khai thác nhỏ lẻ tại Điều 5; Quy định rõ khung thuế cụ thể đối với từng loại sản phẩm tại Điều 8.
Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của UBTVQH lần này cũng đề cập đến các vấn đề được đại biểu Quốc hội có ý kiến như: mối quan hệ giữa Thuế BVMT với các sắc thuế khác và với phí môi trường. Báo cáo cũng đề cập đến các nội dung cụ thể như: giải thích từ ngữ; đối tượng chịu thuế; đối tượng không thuộc diện chịu thuế; phương pháp tính thuế; biểu khung thuế; hoàn thuế; phân chia nguồn thu.
Sau khi nghe báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của UBTVQH, các đại biểu tiếp tục cho ý kiến về dự thảo Luật thuế BVMT. Đa số các đại biểu đều nhất trí với những điều chỉnh trong dự thảo, tuy nhiên cũng có ý kiến khác về những điều khoản quy định trong dự thảo luật đã được chỉnh lý trình Quốc hội tại Kỳ họp lần này.
Không nên đánh thuế túi nylon
Đại biểu Nguyễn Lân Dũng (đoàn Đắk Lắk) nêu lên 2 vấn đề liên quan đến KHKT. Thứ nhất là vấn đề túi nhựa xốp (thường gọi là túi nylon) gây ô nhiễm môi trường là điều ai cũng biết. Tuy nhiên theo đại biểu Nguyễn Lân Dũng, hiện nay chúng ta đã có giải pháp để chế biến rác thải từ túi nylon thành sản phẩm là ống cống, sử dụng không gây ô nhiễm môi trường. Theo đại biểu, thay vì đánh thuế vào sản phẩm này (theo ông Dũng là bất khả thi), chúng ta có thể áp dụng các giải pháp KHKT để tái sử dụng nguồn rác thải này.
Vấn đề thứ 2 mà đại biểu Nguyễn Lân Dũng nêu ra là tình trạng rau quả nhiễm thuốc trừ sâu hiện đang được bày bán tràn lan trên thị trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng. Để hạn chế tình trạng này, đại biểu đề nghị đánh thuế vào những người trồng rau mà còn để dư lượng thuốc trừ sâu cao trong sản phẩm. Chỉ có như vậy, những người sản xuất mới chịu cộng tác với các nhà khoa học và doanh nghiệp để triển khai mô hình trồng rau sạch trong nhà lưới, phục vụ cho các đô thị.
Đại biểu Đinh Xuân Thảo (đoàn Kiên Giang) cho rằng, việc quy định các đối tượng chịu thuế tại Điều 3 của dự thảo Luật là phù hợp. Đại biểu cũng đồng tình với quy định trong Luật: Trường hợp xét thấy cần thiết phải bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quy định.
Đại biểu Đinh Xuân Thảo nêu ra những băn khoăn về cách tính thuế với những trường hợp cụ thể, ví dụ xăng, dầu bán cho các đối tượng là tàu biển hoặc máy bay hoạt động không chỉ ở Việt Nam mà còn hoạt động ở không phận hoặc vùng biển quốc tế và các quốc gia khác thì có thu thuế hay không? Theo đại biểu, đây là điểm chúng ta cần tính kỹ bởi theo lập luận: Nếu gây ô nhiễm ở Việt Nam thì phải tính thuế. Vậy trong trường hợp cụ thể nêu trên, có tính để hoàn thuế cho các đối tượng này hay không?
Đại biểu Trần Văn Tấn (đoàn Tiền Giang) nêu ý kiến về khoản b, Điều 4 của dự thảo Luật quy định về đối tượng không chịu thuế: “Hàng hoá được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam, đưa vào kho ngoại quan nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam” thì không phải chịu thuế. Về quy định này, đại biểu Trần Văn Tấn lấy ví dụ, nếu hàng hoá đưa vào kho ngoại quan và lưu trú ở đây trong thời gian dài, bao bì bị hư hỏng, sản phẩm thoát ra ngoài gây ô nhiễm môi trường thì chúng ta xử lý thế nào? Theo đại biểu, Luật cần có quy định cụ thể hơn về vấn đề này để chúng ta có căn cứ xử lý trong khi xảy ra trường hợp này.
Đại biểu Trần Thị Dung (đoàn Điện Biên) thì cho rằng, nên bỏ quy định “đối tượng không chịu thuế” ra khỏi Luật, bởi theo đại biểu khi đã quy định “đối tượng chịu thuế” thì đương nhiên, những trường hợp còn lại là “đối tượng không chịu thuế”. Nếu quy định “đối tượng không chịu thuế” thì sẽ phải liệt kê rất nhiều trong Luật, và có lẽ sẽ không thể liệt kê hết được.
Chiều 21/10, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ, cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm./.