Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam:

Công trình là cơ sở để viết tiếp quan hệ giữa hai nước

Công trình cũng thể hiện sự tri ân các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước đã góp phần xây đắp mối quan hệ truyền thống Việt - Lào

Trong hai ngày (6 - 7/6), tại thủ đô Vientiane (Lào) diễn ra Hội nghị Tổng kết Dự án Biên soạn công trình "Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam" và Họp báo công bố các sản phẩm của công trình.

Phóng viên VOV phỏng vấn ông Phạm Văn Linh, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương về quá trình thực hiện cũng như ý nghĩa của công trình này.

Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thân mật tiếp ông Cheuang Sombounkhan, Bí thư Trung ương Đảng NDCM Lào, Bộ trưởng, Trưởng ban Thư ký nội các Chính phủ CHDCND Lào.(Ảnh: TTXVN)

PV: Thưa ông, sau 4 năm triển khai, công trình “Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam” đã hoàn thành. Công trình này có nghĩa và giá trị như thế nào trong thực tiễn cũng như trong quan hệ đặc biệt giữa hai?

Ông Phạm Văn Linh: Công trình này có giá trị to lớn và rất nhiều ý nghĩa. Trước hết, công trình đã tái hiện lịch sử dưới giác độ tổng kết lý luận và thực tiễn về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1930 đến nay với nhiều dấu ấn, nhiều mốc son.

Thứ hai, đây là lần đầu tiên chúng ta ghi lại dưới giác độ tổng kết lịch sử, tổng kết thực tiễn, phản ánh khách quan, chân thực quan hệ đặc biệt này. Đây cũng là thể hiện sự tri ân đối với các thế hệ lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và nhân dân hai nước đã góp phần xây đắp mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Thêm nữa, đây là công trình có ý nghĩa giáo dục cho thế hệ trẻ biết gìn giữ, bổ sung và phát triển quan hệ đặc biệt này.

Trong bối cảnh thế giới đa dạng hoá các mối quan hệ, mỗi nước có yêu cầu, nhiệm vụ riêng, công trình là cơ sở để viết tiếp quan hệ giữa hai nước.

PV: Với khối lượng công việc nhiều, trải dài ở cả hai nước, theo ông, những người thực hiện có những thuận lợi và khó khăn gì?

Ông Phạm Văn Linh: Chúng tôi thực hiện công trình này gặp rất nhiều thuận lợi. Thứ nhất là có sự đồng thuận, ủng hộ, chỉ đạo sát sao kịp thời của Bộ Chính trị hai Đảng. Thứ hai là lịch sử quan hệ hai nước không chỉ ở những nhà khoa học, những nhân chứng lịch sử mà còn từ nhân dân. Quá trình thực hiện công trình, chúng tôi nhận được sự ủng hộ tích cực của nhân dân. Thứ ba, chúng ta có hệ thống cơ quan lưu trữ nên các nhà khoa học đã toả đi khắp nơi để tìm tòi, và đã tìm được nhiều tài liệu gốc. Thứ tư, chúng ta có Ban Liên lạc có nhiều nhân chứng lịch sử. Nhiều người đã 80, 90 tuổi nhưng rất tâm huyết, nhiệt tình.

Khó khăn gặp phải cũng nhiều. Đó là, lần đầu tiên chúng ta làm công trình đồ sộ như vậy với nhiều dạng thức thể hiện nên việc tổng kết lịch sử không phải là dễ; Công trình có thời gian lịch sử trải dài mấy chục năm, nhiều tư liệu rải rác khắp nơi, nhân chứng có đồng chí còn, đồng chí mất, có đồng chí cao tuổi nên việc tập hợp tư liệu, nhân chứng khó khăn.

Trong bối cảnh triển khai nhiều hoạt động, sự kiện, việc tập trung cao cho những thời điểm cụ thể, công việc cụ thể cũng gặp khó khăn. Bên cạnh đó là sự đòi hỏi cao của công trình. Công trình phải làm sao tương xứng với tầm vóc quan hệ đặc biệt của hai nước. Cho nên phải chắt lọc, tổng kết như thế nào để chọn được những cái tinh tuý, căn bản nhất và có sự thống nhất giữa hai nước.

PV: Công trình đã nhận được những ý kiến đánh giá, nhận xét như thế nào của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như của các nhà khoa học hai nước, thưa ông?

Ông Phạm Văn Linh: Đây là một công trình khoa học nên đòi hỏi triển khai tổ chức thực hiện một cách khoa học và đánh giá nghiệm thu cũng theo thể thức khoa học, kịp thời và đủ mức để đánh giá chất lượng công trình. Công trình đã được đánh giá cao về mặt giá trị lí luận cũng như ý nghĩa thực tiễn sau khi hoàn thành. Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học 2 nước cho rằng, đây là một công trình được chuẩn bị và kết thúc một cách công phu, nghiêm túc; các giá trị khoa học của nó được đánh giá cao.

PV: Chúng ta cần làm gì để phát huy được giá trị của công trình trong thực tiễn?

Ông Phạm Văn Linh: Ngay sau khi công trình hoàn thành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư 2 Đảng đều có văn bản có tính chất hướng dẫn chỉ đạo tuyên truyền sâu rộng công trình này. Công trình này xuất bản bằng 3 thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Lào và tiếng Anh. Ngoài việc xuất bản toàn bộ công trình, chúng ta còn in tóm lược từng sản phẩm dưới dạng những cuốn sách khoảng 200 trang (bằng 3 thứ tiếng) để phổ biến sâu rộng trong cán bộ, Đảng viên và nhân dân hai nước.

Trước, trong và sau công trình đều tổ chức tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng, Ban Tuyên giáo T.Ư sẽ có hướng dẫn để gửi đến các địa chỉ, những nơi giúp cho việc nghiên cứu sâu, tuyên truyền quảng bá có hiệu quả, phát huy truyền thống tốt đẹp quan hệ Việt Nam – Lào.

Xin cảm ơn ông!./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.