Đám cưới trong hầm De Castre

Không hoa. Không áo cưới. Đám cưới được tổ chức trên chiến trường vừa im tiếng súng. Những người lính mặt còn sạm đen khói súng nghẹn ngào chứng kiến hạnh phúc của đồng đội.

Trong thời khắc ấy, họ hiểu hơn ai hết ý nghĩa và giá trị của hai chữ Hạnh phúc. Hai chữ giản dị mà cả dân tộc đã mất bao xương máu để có được. Cánh đồng Mường Thanh, nơi họ đang chứng kiến cái kết đẹp của một mối tình, nhưng trước đó không lâu, cũng ở nơi đây, nhiều đồng đội của họ đã ngã xuống - có người còn rất trẻ, và chưa từng một lần yêu...

Tình chiến dịch

55 năm sau ngày cưới nhưng bà Nguyễn Thị Ngọc Toản vẫn chưa quên những chi tiết nhỏ về đám cưới của mình trên cánh đồng Mường Thanh. Ngày ấy, nàng là nữ y tá tiền phương, chàng, Cao Văn Khánh, vị Đại đoàn phó Đại đoàn 308. Trong căn phòng tập thể cũ, những bức ảnh đen trắng đã ố mờ vì thời gian nhưng vẫn không chịu cũ trong ký ức của nữ chủ nhân, giờ là một giáo sư có tiếng trong giới y học (bà Ngọc Toản nguyên là Giám đốc Viện quân y 108 - PV). Bức ảnh được treo nơi trang trọng nhất là hình ảnh đôi uyên ương ngồi trên tháp pháo xe tăng, mặt ngẩng cao giữa bầu trời Điện Biên lộng gió. Đó chính là bức ảnh cưới của vợ chồng bà - chụp ngày 22/5/1954, một đám cưới có một không hai, lễ cưới diễn ra dưới căn hầm Đờ Cát, không lâu sau chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, khi dư âm chiến tranh vẫn còn vương vất. Một đám cưới trong ngày chiến thắng. Có cả hạnh phúc và thương đau, niềm vui và nước mắt...

Sinh ra trong một gia đình quý tộc thuộc dòng dõi hoàng gia, ngay từ khi học ở trường Đồng Khánh (Huế), cô nữ sinh Nguyễn Thị Ngọc Toản đã cùng các anh của mình tích cực tham gia phong trào hướng đạo sinh. Nào là biểu diễn văn công để lấy tiền mở thêm lớp bình dân học vụ, dạy chữ cho đồng bào. Nào là nhịn bữa để góp gạo giúp đỡ những người nghèo.... Rồi khi các anh lên đường nhập ngũ, cô nữ sinh ấy cũng về nhà đòi mẹ cho đi bộ đội. Thương con phận gái, người mẹ không cho đi. Nhưng rồi trước ý chí quyết tâm, và cả nước mắt của con gái, người mẹ đã phải mềm lòng...

Ngoài vai trò là cán bộ cứu thương, nữ quân y Nguyễn Thị Ngọc Toản còn tích cực tham gia rải truyền đơn, một mình vào miền Nam bắt liên lạc với cơ sở, bất chấp mọi hiểm nguy dưới sự kiểm tra, theo dõi rất gắt gao của giặc. Hai lần bị giặc bắt, tra khảo, nhưng người con gái ấy vẫn bền gan, không chút  sợ hãi hay yếu lòng. Ngày hành quân lên Điện Biên Phủ, phải vượt qua hơn 500 cây số, bị bom giặc chặn phá, đường đi tắc nghẽn, cả đơn vị của cô phải vừa đi vừa mở đường, hơn một tháng trời mới tới nơi. Gian khổ, khó khăn, nhưng ai nấy đều phấn khởi, hò hát suốt cả quãng đường dài.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân y được chia thành nhiều đội điều trị, mỗi đội 120 người, gồm 3 khu: Khu Khinh thương, khu Trung thương và khu Trọng thương. Ban đầu, nữ quân y Ngọc Toản làm việc trong khu Trung thương, sau đó được phân công sang khu Trọng thương, đặt sâu trong rừng Tuần Giáo. Hàng ngày, phải chứng kiến cảnh những thương binh được chuyển vào ngày càng nhiều, trong lòng bà không khỏi xót xa. Đêm đến, cầm ngọn đèn tới chăm sóc từng thương binh, lòng bà lại thắt lại khi nghe những tiếng thở ngày càng yếu dần. Họ là những người còn rất trẻ, chỉ ở tuổi mười tám, đôi mươi. Nhưng có một điều mà bà không bao giờ có thể quên được. Đó là dù đau đớn, thương tích đầy mình, những thương binh ấy vẫn  không một lời kêu than, khóc lóc.

 

 Xe tăng thành xe cưới

Có lẽ chính những vẻ đẹp về phẩm chất và tâm hồn của người con gái Nguyễn Thị Ngọc Toản đã làm xiêu lòng vị Đại đoàn phó Đại đoàn 308 Cao Văn Khánh, sau này là Trung tướng, Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Mối tình ấy, được sự vun vén của những người thầy, người đồng đội như GS Tôn Thất Tùng - thầy dạy của hai người, Cục trưởng Cục Quân huấn Lê Quang Đạo, đã bừng nở giữa lòng chảo Điện Biên, ngay trong những ngày tháng ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ. Họ hẹn nhau sau chiến dịch, sẽ trở về an toàn khu (ATK) ở Chiêm Hoá, Tuyên Quang, nơi gia đình bà đã chuyển lên, để làm lễ cưới.

Niềm vui và nước mắt

Trong chiến tranh, không ai nói trước được điều gì. Chiến dịch Điện Biên vừa kết thúc, Đại đoàn phó Cao Văn Khánh lại được giao nhiệm vụ ở lại tiếp quản trận địa Mường Thanh, trao trả tù binh. Khi ấy, nữ quân y Ngọc Toản cũng nhận được lệnh ra ngay Mường Thanh để làm nhiệm vụ. Từ Tuần Giáo tới Mường Thanh, chỉ cách nhau chừng 2 giờ đồng hồ tính theo đường chim bay, nhưng bà đã phải đi bộ từ chiều hôm trước tới 2h sáng hôm sau mới tới nơi. Nhờ thông thạo tiếng Pháp, bà được giao tới gặp và nói chuyện với một nữ tù binh duy nhất, vốn là nữ tiếp viên trên máy bay giặc. Dưới sự đề nghị của Hội Phụ nữ Trung ương, Bác Hồ đã ra lệnh thả nữ tù binh này. Bởi là một người phụ nữ, có thể người con gái ấy cũng đã từng làm mẹ, làm vợ. Bà đã giải thích cho nữ tù binh ấy về chính sách khoan hồng đó và khuyên cô viết thư cảm ơn tới Bác Hồ. Đó là ngày 18/5, trước sinh nhật Bác một ngày.

Đến Mường Thanh vì nhiệm vụ, nhưng đó cũng là duyên phận khi nữ cứu thương được gặp mặt người yêu. Một lời gợi ý của Phó tổng cục chính trị Trần Lương (sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), vậy là lễ cưới đã diễn ra, ngay trong căn hầm của tướng bại trận De Castre. Căn hầm được trang trí giản dị bởi những tấm dù chiến lợi phẩm nhiều màu sắc. Phía trước căng một tấm dù đỏ, đính dòng chữ trắng cắt bằng giấy bản đồ rách địch bỏ lại: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ - 22/5/1954”. Khi ấy, dù tiếng súng đã dứt nhưng đây đó trên bầu trời, tiếng máy bay của địch vẫn gầm gào. Chỉ đến khi thực dân Pháp ký Hiệp định Geneva, hoà bình mới thực sự được lập lại ở miền Bắc.

 

 Những bức ảnh về một thời Điện Biên

Đám cưới giữa chiến trường Điện Biên, cô dâu chỉ biết vội vàng ra suối vuốt lại mái tóc và mặc một bộ áo cơi giản dị. Chú rể thì vẫn nghiêm trang trong bộ quần áo lính. Vậy mà vẫn đẹp, vẫn thiêng liêng. Cái đẹp toát ra từ tâm hồn của hai con người đã chiến đấu hết mình vì lý tưởng của Tổ quốc. Trước khi là vợ chồng, họ đã là những người đồng đội, đồng chí. Trong tình yêu của họ, có chung một tình yêu thiêng liêng với Tổ quốc. Ngày cưới, chú rể hát bài “Bộ đội về làng”, cô dâu hát bài “Em bé Mường La” để mừng chiến thắng. Mọi người cùng hô vang: “Hoan hô đám cưới Điện Biên”. Trong niềm vui ngày cưới, có niềm vui chiến thắng của đất nước, cũng có những giọt nước mắt ngậm ngùi khi nhìn thấy nấm mồ của những người đồng đội. Họ còn rất trẻ, và có thể chưa  từng một lần được yêu...

Sau ngày cưới, hai người chỉ được ở bên nhau trong quãng thời gian ngắn ngủi trên đường lui quân. Thế rồi ai về đơn vị nấy. Hạnh phúc riêng khép lại khi những chiến dịch mới mở ra.

Giờ đây, khi đã bước qua tuổi 80, người phụ nữ ấy vẫn luôn khắc khoải một nỗi niềm với những người đồng chí, đồng đội của mình. Chiến tranh đã qua đi, nhưng di chứng của nó vẫn còn để lại những nỗi đau thương, mất mát. Và chính người nữ quân y ấy đã phải hai lần nén nỗi đau khi người chồng và người con trai út lần lượt bỏ bà ra đi vì căn bệnh ung thư gan do di chứng của chất độc da cam. “Nhưng nỗi đau của bà có thấm thía gì so với những gì mà bao người phụ nữ khác đang phải âm thầm chịu đựng. Cháu biết không, đó chỉ là những hạt cát nhỏ” - bà Ngọc Toản tâm sự.

Những hạt cát nhỏ. Nhưng không thể thiếu để làm nên phù sa. Nó cũng giống như bà và biết bao người cùng thế hệ với bà, những người đã âm thầm hy sinh để góp phần làm nên một huyền thoại Điện Biên - huyền thoại của thế kỷ XX./.

“Đám cưới giữa chiến trường Điện Biên, cô dâu chỉ biết vội vàng ra suối vuốt lại mái tóc và mặc bộ áo cơi giản dị. Chú rể thì vẫn nghiêm trang trong bộ quần áo lính. Vậy mà vẫn đẹp, vẫn thiêng liêng. Cái đẹp toát ra từ tâm hồn của hai con người đã chiến đấu hết mình vì lý tưởng của tổ quốc. Bởi trước khi là vợ chồng, họ đã là những người đồng đội, đồng chí.…”.

 

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.