Khơi thông nguồn lực để doanh nghiệp bứt phá sau Hội nghị Trung ương 4
VOV.VN - Sau Hội nghị Trung ương 4, việc đưa các nguồn lực đưa vào sản xuất, kinh doanh là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần tăng trưởng 2 con số. Trao đổi với phóng viên, GS.TS Mạc Quốc Anh đề xuất các giải pháp nhằm tháo gỡ rào cản thể chế, dòng tiền và đất đai,.. để cộng đồng doanh nghiệp bứt phá.
GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội cho rằng, những quan điểm, định hướng trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đưa nguồn lực đã huy động vào sản xuất, kinh doanh, gắn với nâng cao khả năng hấp thụ vốn có ý nghĩa rất quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế.
PV: Với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên năm 2027, doanh nghiệp cần được tháo gỡ những điểm nghẽn nào để thực sự trở thành động lực tăng trưởng, thưa ông?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên năm 2027, được Trung ương thống nhất tại Hội nghị Trung ương 4, đặt ra yêu cầu cao đối với năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Theo tôi, cần ưu tiên năm điểm nghẽn. Trước hết là sự thiếu ổn định, nhất quán trong thực thi chính sách. Doanh nghiệp phải tính được chi phí và rủi ro trong suốt vòng đời dự án. Một thủ tục kéo dài có thể làm lỡ đơn hàng, tăng lãi vay và khiến phương án đầu tư mất hiệu quả. Cần xác định rõ cơ quan chủ trì, thời hạn xử lý và trách nhiệm khi hồ sơ bị chậm.
Thứ hai là dòng tiền. Khi doanh nghiệp có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động, hoặc đã hoàn thành hợp đồng mà chưa được thanh toán, khả năng tăng sản lượng bị hạn chế. Chính sách cần xử lý đồng thời điều kiện vay, chi phí vốn và tiến độ thu hồi công nợ.
Thứ ba là mặt bằng và hạ tầng. Doanh nghiệp cần địa điểm sản xuất có pháp lý rõ ràng, giá thuê phù hợp, điện ổn định và vận chuyển thuận lợi. Quy hoạch phải đi cùng khả năng tiếp cận thực tế.
Thứ tư là thị trường. Cần mở thêm cơ hội tham gia chuỗi cung ứng, mua sắm công, xuất khẩu; bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và xử lý hàng giả, gian lận thương mại để doanh nghiệp đầu tư bài bản có động lực phát triển.
Thứ năm là năng lực nội tại, gồm quản trị, công nghệ và nhân lực. Hỗ trợ nên gắn với từng bài toán tăng năng suất, giảm lỗi, giảm chi phí. Điều tôi muốn nhấn mạnh là phải tháo gỡ cả tâm lý ngại mở rộng. Khi quyền tài sản được bảo vệ và chính sách có thể dự liệu, doanh nhân mới yên tâm đưa lợi nhuận trở lại đầu tư.
PV: Nghị quyết 68-NQ/TW đã mở ra định hướng mới cho kinh tế tư nhân. Theo ông, cần làm gì để doanh nghiệp thực sự được tiếp cận thuận lợi hơn với vốn, đất đai và cơ hội kinh doanh?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia và nhấn mạnh quyền tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, cơ hội kinh doanh. Tôi đề nghị hỗ trợ theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Về vốn, ngân hàng cần tăng thẩm định dòng tiền, độ tin cậy của hợp đồng và lịch sử thanh toán. Chẳng hạn, một doanh nghiệp cung ứng có đơn hàng được bên mua xác nhận cần được xem xét tài trợ theo tiến độ giao hàng. Quỹ bảo lãnh phải có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng; doanh nghiệp được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ và biết lý do khi bị từ chối.
Về đất đai, thông tin phải đủ để doanh nghiệp ra quyết định: vị trí, hiện trạng pháp lý, hạ tầng, giá thuê và thời điểm bàn giao. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên phát triển nhà xưởng cho thuê có diện tích linh hoạt, giúp giảm khoản vốn phải bỏ ra ban đầu. Việc hỗ trợ cần được công khai tới từng đối tượng đủ điều kiện. Về cơ hội kinh doanh, cần công bố sớm nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện lựa chọn nhà cung cấp.
Yêu cầu về kinh nghiệm, doanh thu phải tương xứng với tính chất hợp đồng. Doanh nghiệp nhỏ có năng lực cần có cơ hội chứng minh bằng sản phẩm, chất lượng và khả năng giao hàng. Tôi đề xuất mỗi địa phương có đầu mối theo dõi hồ sơ hỗ trợ từ tiếp nhận đến kết quả cuối cùng. Hiệp hội doanh nghiệp có thể phối hợp chuẩn hóa nhu cầu, kết nối ngân hàng, đối tác và phản ánh vướng mắc. Tiếp cận thuận lợi phải được thể hiện bằng vốn đã nhận, mặt bằng đã sử dụng và hợp đồng đã thực hiện.
PV: Theo ông, Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 cần được triển khai như thế nào để thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, cùng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng cần triển khai hai nghị quyết trong cùng một chương trình phát triển năng lực doanh nghiệp quốc gia. Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước có phạm vi rộng, bao gồm cả đất đai, tài sản, hạ tầng và các nguồn lực công; đồng thời đặt yêu cầu hợp tác, cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế. Từ đó, tôi đề xuất lựa chọn một số chuỗi có khả năng tạo giá trị lớn như năng lượng, logistics, hạ tầng số, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ để tổ chức hợp tác cụ thể. Mỗi chương trình cần xác định sản phẩm, nhu cầu thị trường, doanh nghiệp đầu mối và các đối tác có khả năng tham gia.
Doanh nghiệp nhà nước nên công bố kế hoạch mua sắm và nhu cầu công nghệ đủ sớm để doanh nghiệp tư nhân chuẩn bị. Hai bên có thể cùng xây dựng tiêu chuẩn, thử nghiệm sản phẩm và ký hợp đồng dài hạn khi đáp ứng yêu cầu. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, được tham gia quá trình phát triển sản phẩm sẽ giúp tích lũy năng lực thiết kế, quản trị chất lượng và nâng vị trí trong chuỗi.
Quan hệ hợp tác phải dựa trên hiệu quả thương mại, lựa chọn đối tác minh bạch, phân chia lợi ích tương xứng. Hợp đồng cần rõ trách nhiệm thanh toán, quyền sở hữu công nghệ, cơ chế giải quyết tranh chấp và phương án xử lý rủi ro.
Đồng thời, cần trao quyền quyết định gắn với trách nhiệm giải trình cho người quản lý doanh nghiệp nhà nước; đánh giá khách quan rủi ro kinh doanh và kiểm soát xung đột lợi ích. Tôi mong thành công của hợp tác được nhìn thấy ở số nhà cung ứng trong nước trưởng thành, công nghệ được làm chủ và giá trị giữ lại tại Việt Nam. Đó là nền tảng nâng sức cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
PV: Từ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đưa nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh, cần có giải pháp gì để khơi thông dòng vốn, thúc đẩy đầu tư và nâng cao năng suất doanh nghiệp, thưa ông?
Tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 4 ngày 8/10, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đưa nguồn lực đã huy động vào sản xuất, kinh doanh, gắn với nâng cao khả năng hấp thụ vốn. Theo tôi, cần nhìn xuyên suốt từ tiền được huy động đến sản phẩm được bán và dòng tiền quay trở lại doanh nghiệp.
Trước hết, phải giải phóng nguồn vốn đang bị chậm luân chuyển. Tôi đề nghị rà soát từng dự án vướng mắc, phân loại nguyên nhân và giao thời hạn xử lý. Đồng thời, đẩy nhanh hoàn thuế đối với hồ sơ đủ điều kiện, nghiệm thu và thanh toán khối lượng đã hoàn thành theo hợp đồng.
Thu hồi được tiền đúng hạn giúp doanh nghiệp chủ động mua nguyên liệu, trả lương và nhận đơn hàng mới. Tiếp theo là bố trí nguồn vốn phù hợp với thời gian đầu tư. Mua máy móc, đổi mới công nghệ cần vốn trung và dài hạn; đơn hàng thường xuyên cần vốn lưu động linh hoạt. Nên mở rộng cho thuê tài chính, đầu tư góp vốn và tài trợ chuỗi cung ứng, gắn với minh bạch thông tin và đánh giá khả năng trả nợ.
Một yêu cầu quyết định là nâng hiệu quả sử dụng vốn. Chương trình hỗ trợ công nghệ nên bắt đầu bằng chẩn đoán vấn đề của doanh nghiệp. Ví dụ, nếu nguyên nhân chậm giao hàng nằm ở quản trị tồn kho thì phải cải tiến quy trình, dữ liệu và kỹ năng nhân sự cùng với đầu tư phần mềm. Bản thân doanh nghiệp cũng phải minh bạch sổ sách, quản trị dòng tiền và có phương án thị trường thuyết phục. Hỗ trợ bên ngoài chỉ phát huy hiệu quả khi có năng lực thực hiện bên trong. Chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp để duy trì môi trường ổn định, giúp doanh nghiệp có cơ sở tính toán hiệu quả đầu tư dài hạn.
PV: Theo ông, cần dựa vào những tiêu chí cụ thể nào để đánh giá hiệu quả thực thi Nghị quyết 68, Nghị quyết 79 và mức độ đóng góp thực chất của doanh nghiệp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số?
GS.TS Mạc Quốc Anh: Tôi đề nghị đánh giá bằng năm nhóm tiêu chí, từ chất lượng thực thi đến kết quả kinh doanh và giá trị tạo ra. Nhóm thứ nhất là chi phí thể chế: thời gian giải quyết thủ tục, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, số lần bổ sung giấy tờ và chi phí tuân thủ. Cần lấy trải nghiệm doanh nghiệp làm căn cứ kiểm chứng.
Nhóm thứ hai là khả năng tiếp cận nguồn lực: tỷ lệ doanh nghiệp có nhu cầu vay được đáp ứng, chi phí vốn thực trả, thời gian nhận mặt bằng và số dự án được tháo gỡ đã vận hành. Dữ liệu phải phân theo quy mô để thấy doanh nghiệp nhỏ có được hưởng lợi.
Nhóm thứ ba là hiệu quả hợp tác: giá trị hợp đồng đã thực hiện giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, tỷ lệ thanh toán đúng hạn, số nhà cung ứng đạt chuẩn, mức tăng giá trị nội địa và kết quả chuyển giao công nghệ.
Nhóm thứ tư là chất lượng phát triển doanh nghiệp: số doanh nghiệp thực sự hoạt động, tỷ lệ tồn tại sau ba năm, vốn đầu tư thực hiện, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn và khả năng đổi mới. Với doanh nghiệp nhà nước, phải tính đầy đủ nguồn lực được giao, tách rõ nhiệm vụ công ích khi đánh giá kinh doanh.
Nhóm thứ năm là đóng góp phát triển: giá trị tăng thêm theo giá so sánh, đóng góp vào tăng trưởng GDP, việc làm, thu nhập thực tế, nghĩa vụ ngân sách và mức tiêu hao năng lượng trên đơn vị sản phẩm. Phải tránh cộng trùng doanh thu giữa các doanh nghiệp trong chuỗi. Mỗi chỉ tiêu cần có mốc ban đầu, mục tiêu, đơn vị chịu trách nhiệm và kỳ công bố phù hợp. Nên kết hợp dữ liệu quản lý với khảo sát độc lập; thận trọng khi quy toàn bộ thay đổi kinh tế cho một chính sách. Kết quả đánh giá phải dẫn tới điều chỉnh nguồn lực và trách nhiệm thực thi.