Người trẻ tiếp nối ý chí “chân trần, chí thép” trong kỷ nguyên khoa học-công nghệ
VOV.VN - “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là chân lý, là sợi chỉ đỏ dẫn dắt, là mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua bao thế hệ và kết tinh thành sức mạnh làm nên đại thắng mùa Xuân 1975.
Trong bối cảnh mới, khát vọng ấy được mở rộng và nâng tầm, gắn với phát triển, hội nhập và kiến tạo nội lực quốc gia vững mạnh.
Tiến sĩ (TS) Bùi Thị Hồng Thúy, khoa Lý luận chính trị, Học viện Ngân hàng nhấn mạnh điều này khi trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam.
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
PV: Khát vọng độc lập, tự do là ngọn lửa bền bỉ, âm ỉ cháy trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Khát vọng đó đã biểu hiện như thế nào qua chiến thắng lịch sử 30/4/1975, thưa TS?
TS. Bùi Thị Hồng Thúy: Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, có một ngọn lửa chưa bao giờ tắt đó là khát vọng độc lập, tự do. Khát vọng độc lập, tự do là giá trị cốt lõi, thiêng liêng, hun đúc nên bản sắc và sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy và biến khát vọng đó trở thành bản lĩnh, ý chí kiên cường, động lực tinh thần to lớn, dẫn dắt dân tộc đi từ nô lệ đến tự do, từ chia cắt đến thống nhất, từ nghèo nàn lạc hậu đến phát triển, phồn vinh, hạnh phúc.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, vĩ tuyến 17 làm giới tuyến tạm thời chia cắt đất nước. Miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam vẫn nằm dưới sự kiểm soát của thực dân, đế quốc. Đảng đã táo bạo, sáng suốt khi đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền. Miền Bắc đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; làm hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, câu nói ấy không chỉ là khẩu hiệu mà là lẽ sống; là lời hiệu triệu và là tuyên ngôn bất diệt về giá trị tối thượng của một quốc gia và của mỗi con người. Nó trở thành nguồn sức mạnh vô địch đưa dân tộc vượt qua mọi thử thách, biến cái không thể thành có thể, viết nên chiến công vĩ đại mùa Xuân năm 1975.
Nhờ khát vọng ấy, dân tộc Việt Nam đã khẳng định với thế giới rằng, một quốc gia nhỏ bé hoàn toàn có thể làm nên những điều lớn lao khi có ý chí kiên cường, quả cảm và khát vọng chính nghĩa. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc trường chinh chống Mỹ kéo dài 21 năm, 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và hơn một thế kỷ đằng đẵng chống ngoại xâm, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
PV: Bước vào thời kỳ hòa bình, thống nhất, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, khát vọng độc lập - tự do được mở rộng về nội hàm. TS có thể phân tích kỹ hơn về điều này?
TS. Bùi Thị Hồng Thúy: Bước vào thời kỳ hòa bình, thống nhất, đặc biệt là công cuộc đổi mới, khát vọng độc lập - tự do được mở rộng về nội hàm, đó không đơn giản chỉ là thoát khỏi ách đô hộ, mà còn là độc lập trong tư duy, trong phát triển, trong hội nhập. Độc lập lúc này đồng nghĩa với việc giữ vững chủ quyền quốc gia, tự chủ về kinh tế, chủ động về khoa học - công nghệ và kiên định con đường phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Khát vọng tự do trở thành khát vọng về môi trường sống an toàn, con người có điều kiện phát triển toàn diện, sáng tạo và cống hiến; khát vọng vươn mình với thế giới bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Chính những giá trị ấy đã đưa Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Với thế và lực đã được tích lũy qua 40 năm đổi mới, từ những thành tựu lịch sử đạt được cùng với sự lao động sáng tạo, bền bỉ đã tạo nên nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển và giàu mạnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong kỷ nguyên mới, ưu tiên hàng đầu là thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Kiến tạo nội lực phát triển
PV: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, làm thế nào để vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa phát triển đất nước một cách bền vững, thưa TS?
TS. Bùi Thị Hồng Thúy: Toàn cầu hóa và hội nhập là xu thế tất yếu của thời đại, vì vậy việc vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa hội nhập để phát triển không phải là sự lựa chọn giữa hai mục tiêu, mà là bài toán về năng lực thiết lập sự cân bằng giữa hai mục tiêu đó. Trong bối cảnh hiện nay, độc lập - tự chủ không đơn giản chỉ chủ quyền lãnh thổ, mà sâu xa hơn là năng lực tự quyết, tự chủ trong một thế giới cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau.
Để vừa giữ vững độc lập, tự chủ, vừa phát triển đất nước một cách bền vững, vấn đề cốt lõi nằm ở việc kiến tạo nội lực phát triển. Một quốc gia chỉ có thể được coi là thực sự độc lập khi làm chủ vững chắc các trụ cột nền tảng, bao gồm: thể chế, tri thức và công nghệ; chất lượng nguồn nhân lực; mức độ tự chủ của nền kinh tế; cùng với bản sắc văn hóa và hệ giá trị cốt lõi. Khi nội lực đủ mạnh, hội nhập không còn là áp lực, mà trở thành cơ hội để mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển bền vững sẽ trở thành định hướng chiến lược cốt lõi để bảo đảm sự thịnh vượng lâu dài của đất nước. Điều này đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, trong đó khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò then chốt. Một nền kinh tế tự chủ, có khả năng thích ứng linh hoạt trước biến động toàn cầu sẽ giúp quốc gia tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hội nhập, đồng thời giảm thiểu rủi ro từ bên ngoài. Bên cạnh đó, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng thể chế hiện đại, minh bạch và thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số sẽ tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng. Quan trọng hơn, phát triển bền vững trong tương lai không chỉ hướng tới mục tiêu kinh tế mà còn đề cao giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc và chất lượng cuộc sống của người dân, qua đó khẳng định vị thế quốc gia trong một thế giới toàn cầu hóa nhưng đầy cạnh tranh và biến động.
PV: Theo TS, cần làm gì để thế hệ trẻ biến niềm tự hào về lịch sử thành hành động đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới?
TS. Bùi Thị Hồng Thúy: Thế hệ trẻ giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, bởi đây là lực lượng năng động, sáng tạo, giàu khát vọng và có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi của thời đại. Thực tế cho thấy, thế hệ trẻ Việt Nam rất quan tâm tới những vấn đề lịch sử, thời sự, chính trị - xã hội. Bằng chứng được thể hiện rõ nét thông qua sự tham gia của đông đảo người trẻ trong các phong trào hành động cách mạng, các hoạt động kỷ niệm, chào mừng gắn với các ngày lễ lớn của dân tộc…
Để thế hệ trẻ không chỉ tự hào về lịch sử mà còn biến nó thành động lực hành động, cần khơi dậy một mạch nguồn nối liền giữa quá khứ - hiện tại - tương lai. Quá khứ không chỉ là những trang sử để nhớ, niềm tự hào nếu chỉ dừng lại ở cảm xúc rất dễ phai nhạt theo thời gian. Điều quan trọng là ở chỗ giáo dục truyền thống để người trẻ hiểu lịch sử chính là cội nguồn sức mạnh tinh thần, là những bài học về ý chí, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của dân tộc. Khi người trẻ thực sự thấm nhuần những giá trị ấy, họ sẽ không nhìn lịch sử như điều đã qua, mà trở thành một lời nhắc nhở về trách nhiệm tiếp nối, về tinh thần cống hiến.
Nếu như cha ông ta viết nên lịch sử từ “chân trần, chí thép”, thì hôm nay, chính sự dấn thân của người trẻ trong khoa học - công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo hay các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng là cách thiết thực nhất để tiếp nối truyền thống và thể hiện lòng yêu nước. Chính những trải nghiệm thực tiễn này giúp họ rèn luyện năng lực, hình thành bản lĩnh và nuôi dưỡng khát vọng để từ đó “viết tiếp câu chuyện hoà bình” trong kỷ nguyên mới. Khi đó, lịch sử không còn nằm trong sách vở, mà hiện hữu trong từng hành động cụ thể, từng việc làm của thế hệ hôm nay.
Bên cạnh đó, thế hệ trẻ hôm nay cần có một tinh thần chủ động, không chờ đợi, không đứng ngoài, mà sẵn sàng dấn thân, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Tự hào về lịch sử là điểm khởi đầu, nhưng chính hành động trong hiện tại mới là thước đo chân thực nhất của lòng yêu nước và trách nhiệm với tương lai.
PV: Xin cảm ơn TS!