Vài nét về nước Việt Nam DCCH với vấn đề tôn giáo

Bài viết của GS.TS Đỗ Quang Hưng (Đại học Quốc gia Hà Nội), nguyên Viện trưởng Viện Tôn giáo (Viện KHXHVN) đã được trình bày trong Hội thảo Quốc gia 65 năm nước CHXHCN Việt Nam (1945-2010). VOVNews lược đăng

Nhà nước ta kể từ khi ra đời sau Cách mạng tháng Tám 1945, trong quá trình xây dựng và trưởng thành, luôn phải đối đầu với nhiều vấn đề lớn về chính trị, xã hội, văn hóa, trong khung cảnh cuộc đổi đời vĩ đại của một dân tộc, từ thân phận một nước nô lệ, trở thành nước CHXHCN Việt Nam có vị thế ngày càng to lớn trên trường quốc tế.

Một trong những vấn đề như thế là việc giải quyết vấn đề tôn giáo. Lẽ dĩ nhiên chính sách tôn giáo luôn được Nhà nước thừa nhận như một chính sách công (public policy). Nhưng ở Việt Nam, do một thời gian dài cả dân tộc phải lao vào cuộc đấu tranh bảo vệ và giữ vững chủ quyền độc lập quốc gia, việc hoàn chỉnh và thực thi chính sách đó nhiều lúc diễn ra trong những khung cảnh lịch sử “không bình thường”, một mất một còn.

Vấn đề tôn giáo trong đêm trước của cuộc Cách mạng

Có một điểm đáng chú ý, ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới ra đời, trong hàng loạt những nỗ lực để tuyên truyền phổ biến đường lối cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta, từ Đường Kách mệnh, Chính cương Sách lược vắn tắt (3/2/1930), Luận cương Chính trị (10/1930) đến các văn bản chính trị sau này của Đảng ta trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám, dù không chiếm vị trí lớn, gay gắt và thường xuyên, nhưng vấn đề tôn giáo vẫn luôn có trong ý thức tư tưởng của các nhà lãnh đạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu đồng bào theo đạo Thiên Chúa ngày 10/3/1955 (ảnh: Tư liệu)

 “Mặc dù giai đoạn trước 1945, những người cách mạng Việt Nam có mối bận tâm lớn nhất là cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân nhưng không ít những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã có được những quan điểm đúng đắn vượt trội về tôn giáo, điều mà trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lúc đó không phải Đảng Cộng sản nào cũng có được” (Xem bài: Mấy ý kiến của Lê Hồng Phong về vấn đề tôn giáo, trong cuốn "Nghiên cứu tôn giáo, nhân vật và sự kiện", NXB TH TP. HCM, tái bản lần I, 2010, tr56. Tài liệu gốc, Tiếng Nga, lưu trữ Quốc tế Cộng sản, Moscow, ký hiệu 459-201-46, Hồ sơ lưu trữ cá nhân của Lê Hồng Phong).

Phải khẳng định rằng, cùng với phê phán những quan điểm sai lầm, Đảng ta đã sớm có được cái nhìn tỉnh táo về chính trị và phương pháp tư tưởng: thấy được sự khác biệt giữa các hệ tư tưởng ý thức và tôn giáo, thấy rõ sự nguy hại của những âm mưu thủ đoạn lợi dụng các vấn đề tôn giáo của thực dân và tay sai. Đồng thời cũng thấy được khả năng cách mạng không nhỏ của quần chúng có đạo.

Ngoài những luận điểm, nhận định đúng đắn, sâu sắc của Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong về tôn giáo nước ta, cho đến những ý kiến của Trường Chinh, Nguyễn Văn Nguyễn ngay sau Cách mạng tháng Tám, nhiều văn kiện của Đảng ta trong thời kì vận động Cách mạng tháng Tám cũng đã chú trọng điều này. Tập trung nhất là thái độ của Đảng ta với các tôn giáo trong chủ trương lớn thành lập Mặt trận Việt Minh.

Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực sự là cuộc nổi dậy của toàn dân tộc trong đó có những đóng góp nhất định của đồng bào các tôn giáo. Ngay trước cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, tại căn cứ địa Việt Bắc, khi khai mạc Quốc dân Đại hội Tân Trào, người ta thấy, trong 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, đại biểu từ Bắc, Trung, Nam, có không ít đại biểu các dân tộc và tôn giáo. (Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960.Nxb CTQG Hà Nội, 1994 tr19).

Ngược lại, thái độ hồ hởi, dứt khoát của đồng bào các tôn giáo cũng sớm được bộc lộ. Trong những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám, lần đầu tiên trên các tờ báo như Đa Minh (Công giáo), Tiếng chuông sớm (Phật giáo), đã xuất hiện những bài viết đầy thiện cảm với dân tộc và cách mạng.

Có thể rút ra một nhận xét: Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, xét ở góc độ dân tộc và tôn giáo, dường như có biến diễn tích cực, suôn sẻ, đã xuất hiện khả năng “vấn đề tôn giáo sẽ ổn thỏa, không có gì phức tạp trong quá trình giành, giữ chính quyền’, điều mà không phải cách mạng nước nào cũng có được. Ở đây, cũng cần nói thêm rằng, hình ảnh Hồ Chí Minh đã có sức thu hút và quyết định không nhỏ.

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa với vấn đề tôn giáo

Thành tựu đầu tiên trong chính sách tôn giáo của Chính phủ Hồ Chí Minh, đó là sớm xác định vị trí quan trọng của chính sách này. Trong 6 vấn đề cấp bách, Chính phủ đã coi việc công khai thái độ của mình với vấn đề tín ngưỡng tôn giáo là một trong số ấy, như tuyên bố của Hồ Chí Minh: “Thực dân phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ra tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, Hà Nội, 1995, tập 4. tr7-8)

Mặc dù chính phủ lâm thời ngay trong tháng 9/1945 đã đối đầu với nhiều thách đố quốc kế dân sinh, nhưng đã có không ít phiên họp của Chính phủ đề cập những vấn đề cụ thể hơn trong chính sách tôn giáo. Biên bản phiên họp ngày 20/9/1945 ghi rõ: “Xét quyền tự do tín ngưỡng là một nguyên tắc của chính thể dân chủ cộng hòa, chính phủ ra lệnh: Điều thứ nhất, đền, chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả những nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng, không được xâm phạm” (Trung tâm lưu trữ Quốc gia III, tập Sắc lệnh của Chủ tịch Việt Nam 1945-1946, Hồ sơ số 97).

Thứ hai, nhận thấy việc tuyên truyền, giáo dục về chính sách cũng như nâng cao nhận thức của quần chúng trong việc đoàn kết lương - giáo là hết sức cấp bách lúc đó, nhiều nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã kịp thời có những bài viết quan trọng, cởi gỡ những vướng mắc, vạch trần những âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ thù.

Trên tờ Sự thật số 30 (ngày 6/4/1946), dưới bút danh T.C, tác giả Trường Chinh có một bài viết quan trọng nhan đề: "Đánh đổ khuynh hướng sai lầm, đừng xâm phạm đến tín ngưỡng của dân" là một ví dụ tiêu biểu. Tác giả không chỉ phê phán “những căn bệnh ấu trĩ tả khuynh” về tôn giáo bộc lộ ngay ở nhiều địa phương quanh Hà Nội, mà còn dự báo rằng, trong những ngày đầu Cách mạng, đây sẽ là vấn đề gai góc mà chính quyền cần quan tâm (Xem bài này trong tờ Sự thật 6/4/1946, tr5.)

Cũng phải nói thêm rằng, vấn đề Cộng sản và Công giáo, dù sao cũng là vấn đề tôn giáo phức tạp nhất lúc đó. Để bác bỏ những quan điểm vu khống người Cộng sản trong vấn đề tôn giáo, tác giả Trường Chinh đã viết bài chính luận, sắc sảo về luận lý, cứ liệu thuyết phục, thái độ chuẩn mực với đầu đề: "Cộng sản và Công giáo", đăng trên Sự thật số 105 (25/12/1948).

Đây cũng là khoảng thời gian mà Chủ tịch Hồ Chí Minh có những bài viết, thư thăm hỏi chức sắc, đồng bào các tôn giáo (nhất là với Công giáo và Phật giáo) mẫu mực, được các nhà nghiên cứu, bạn đọc lâu nay nghiền ngẫm.

Một thành tựu độc đáo khác là Chính phủ Hồ Chí Minh đã có nhiều sáng kiến trong việc thành lập các tổ chức yêu nước thích hợp với chức sắc đồng bào các tôn giáo, đặc biệt lôi cuốn được nhiều nhân vật tiêu biểu của các tôn giáo tham gia các tổ chức chính trị và quyền lực của Cách mạng.

Cách mạng tháng Tám mà hiện thân của nó là Hồ Chí Minh tự nó có sức thu hút nhiều nhân vật trí thức, chức sắc tiêu biểu của các tôn giáo tham gia chính quyền như: Cụ Ngô Tử Hạ, Thứ trưởng Bộ Thương binh; Bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ Thương binh (cuối kháng chiến chống Pháp); Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, Giám đốc Tài chính Nam bộ, Chủ tịch Công giáo Cứu quốc Nam Bộ; Trần Công Chính, dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà ấp Hà Nội, Bí thư Công giáo Cứu quốc Trung ương; Luật sư Thái Văn Lung, Đại biểu Quốc hội Gia Định, Khu phó Quân khu 7, hy sinh ngay những ngày đầu Nam bộ kháng chiến...

... Trong Quốc hội cũng có nhiều nhân vật Công giáo đáng chú ý: Giáo sư, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng (ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội); cụ Ngô Tử Hạ, người đóng vai trò Chủ tịch phiên đầu tiên Quốc hội (sáng 2/3/1946); đặc biệt vai trò của Linh mục Phạm Bá Trực, Phó Trưởng ban thường trực Quốc hội từ tháng 12/1946.

Trong Quốc hội kháng chiến còn có một chức sắc Cao Đài, cụ Cao Triều Phát (ủy viên Ban Thường trực) mà cống hiến của cụ đã được ghi nhận từ lâu.

Từng bước, Đảng và Nhà nước ta, từ chính sách vĩ mô đã dần có những chính sách cụ thể đối với mỗi tôn giáo như “Công giáo vận”, “Cao Đài vận”, “Hòa Hảo vận”…

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh có sáng kiến triệu tập Hội nghị Tôn giáo kháng chiến toàn quốc năm 1952 ở Việt Bắc là một sự kiện quan trọng khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đoàn kết dân tộc - tôn giáo.

Cũng không thể bỏ qua được một thành tựu khác của chính sách tôn giáo trong kháng chiến chống thực dân Pháp là Chính phủ Hồ Chí Minh đã có những quyết sách đúng đắn, sáng tạo liên quan đến cộng đồng các tôn giáo khi ban hành hàng loạt các chính sách chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa. Chúng tôi đã lưu tâm đến điều này khi nghiên cứu Sắc lệnh về miễn thuế đất và hoa màu cho các tổ chức tôn giáo (1949) và đặc biệt Luật cải cách ruộng đất (1952). Hiếm có một nước XHCN nào lúc đó, có được một chính sách tôn giáo mềm mỏng, đúng mức, có nguyên tắc và hiệu quả như những văn bản này khi mà tôn giáo lại đặt trong những lĩnh vực “có tính nguyên tắc” như vấn đề giai cấp địa chủ và ruộng đất lúc đó.

Như vậy là trong kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù chính sách về tôn giáo được thực thi trong những điều kiện có chiến tranh, bảo vệ độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng luôn được đặt lên hàng đầu, nhưng Chính phủ Hồ Chí Minh vẫn có những bước tiến quan trọng trong việc hoạch định, thực thi chính sách này, góp phần không nhỏ cho thắng lợi ở Điện Biên Phủ và hiệp định Geneve (7/1954)./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.