2 năm gia nhập WTO: Được và mất
Nền kinh tế bộc lộ nhiều yếu kém nhưng qua đó Việt Nam nhận thức được để sửa mình và vươn lên.
Năm 2008 có thể nói là năm khá đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Đây là năm thứ hai nước ta trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Từ sân chơi riêng lẻ, chúng ta chấp nhận ra sân chơi chung với những luật lệ ít nhiều còn xa lạ với năng lực quản lý, nhân lực và trình độ công nghiệp.
Những điểm sáng
Trong thời gian đầu, chúng ta đã lộ ra những nhược điểm cố hữu. Đặc thù thứ hai trong năm 2008 là lạm phát tăng cao và vào giai đoạn cuối năm lại phải hứng chịu ảnh hưởng từ cuộc đại suy thoái toàn cầu. Đặc thù thứ ba là các sự cố thiên tai chưa từng thấy liên tiếp xảy ra khiến sự khó khăn của kinh tế Việt Nam càng tăng thêm gấp bội. Việc liên tiếp xảy ra thiên tai một phần do quy luật của thiên nhiên, phần khác cũng là kết quả của sự non yếu trong quản lý xã hội, sự “ăn xổi ở thì” và sự thiếu kinh nghiệm trong xu thế duy trì chỉ số tăng trưởng.
Nhưng cũng cần ghi nhận, giữa bảng mầu không lấy gì làm sáng sủa của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008, đã nổi lên những điểm sáng. Rõ ràng, trước rất nhiều tác động bất lợi từ trong cũng như ngoài, nền kinh tế Việt Nam về cơ bản vẫn đứng vững. Chỉ số tăng trưởng tuy bị điều chỉnh xuống nhưng vẫn đủ sức khẳng định sự phát triển nội tại của nền kinh tế. Xuất khẩu tăng lên, nhập siêu và giá cả ở những tháng cuối năm giảm đáng kể… Trong sự đóng góp cho mức tăng trưởng khiêm tốn này cũng cần kể đến vai trò của các Tổng công ty, tập đoàn kinh tế Nhà nước. Mặc dù chưa thực sự tìm ra bước đi hiệu quả song vẫn giữ vị trí chủ đạo của nền kinh tế, nhất là khi các đơn vị này giữ trọng trách thực hiện các nhóm biện pháp khẩn cấp của Chính phủ trong việc “kiềm chế lạm phát, đảm bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu và giữ ổn định thị trường”.
Điều nổi bật nữa là sự điều hành vĩ mô tuy giai đoạn đầu năm và ngay cả hiện nay vẫn chưa thoát khỏi sự lúng túng, nhất là trong khâu dự báo, nhưng trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng của tình hình lạm phát đã tìm ra những biện pháp hay, kịp thời để gỡ thế bí cho nền kinh tế. Tiêu biểu cho các biện pháp này là chính sách tiền tệ. Đây là biện pháp quản lý vĩ mô lần đầu tiên được áp dụng ở nước ta và đã mang lại những kết quả khả quan trong kiềm chế lạm phát. Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2008 vẫn đạt con số kỉ lục, cả năm khoảng trên 60 tỷ USD. Điều này thêm một lần khẳng định, Việt Nam vẫn là nơi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Và đây cũng chính là tiền đề tạo ra thế phát triển cho một nền kinh tế.
Nhận ra khuyết điểm để vượt lên
Trong năm thứ 2 ra biển lớn, nền kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ những điểm yếu cần khắc phục. Nguyên nhân bao trùm là sự quá chậm chạp trong việc loại bỏ các thói quen của một nền quản lý bao cấp. Điều này chẳng những tạo ra sự trì trệ, kém năng động trong sản xuất kinh doanh mà còn gây cản trở cho việc điều hành, triển khai đầu tư. Điều đầu tiên, với sự gia nhập WTO, chúng ta đã quá nôn nóng muốn xây dựng một nền kinh tế hiện đại, trong đó hạt nhân là tạo dựng được một nền công nghiệp tiên tiến. Chính vì thế, chúng ta đã lãng quên đặc thù và cũng là thế mạnh của nền kinh tế Việt Nam là nông nghiệp. Sự chấp nhận đầu tư ồ ạt, thiếu chọn lọc hàng loạt dự án công nghiệp, hàng loạt khu công nghiệp mọc ra một cách thiếu qui hoạch không những không tạo ra hiệu quả kinh tế như mong muốn mà còn gây ra những hệ luỵ buồn. Đồng vốn đầu tư không đạt hiệu quả trong khi số nợ lại tăng lên. Đất canh tác bị thu hẹp gây khó khăn cho người nông dân, môi trường bị xâm phạm…, tất cả thực trạng này đã làm cho nền kinh tế thiếu sự vững chắc trong phát triển và bất ổn về an sinh.
Điều thứ hai, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường lại vẫn coi trọng kinh tế quốc doanh. Dồn quá nhiều vốn cho các TĐ Nhà nước trong khi hầu hết các đơn vị trong lĩnh vực này lại làm ăn không hiệu quả.Theo thống kê thì vốn dành cho các các “ngài quí tử” này lên đến hơn 50% ngân sách để họ cho ra chưa đầy 15% lãi. Điều này vô hình chung đã làm mất đi tính bình đẳng của các thành phần khác, ảnh hưởng lớn đến sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế. Trong khi đó, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn hiệu quả nhưng lại thật sự khó khăn về vốn trong giai đoạn Chính phủ thi hành biện pháp kiềm chế lạm phát.
Điều thứ ba, là trong quá trình xây dựng và điều hành kinh tế chúng ta chưa bao giờ coi trọng tính tổng thể. Thế cho nên trong 2 năm qua, nhất là trong năm 2008, tình trạng hỗn độn trong phát triển kinh tế ngành, địa phương càng tăng, sự chồng chéo và ngăn cản nhau bởi lợi ích cục bộ của ngành, của địa phương ngày càng phát sinh và tạo ra những rào cản lớn.
Ngoài 3 khiếm khuyết trên, trong năm 2008, vẫn còn những khuyết điểm cố hữu của nền kinh tế Việt Nam, như tham nhũng, chất lượng nguồn nhân lực và bố trí nhân lực chưa đúng vị trí. Trong báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) vào ngày 10/12/2008 đã nhấn mạnh: “năm 2009, Việt Nam sẽ phục hồi kinh tế”. Thế nhưng, nếu chúng ta không nhanh chóng có biện pháp giải quyết những khuyết điểm này thì nó sẽ trở thành căn bệnh trầm kha, kìm hãm đà đi lên trong năm 2009 của kinh tế Việt Nam như dự báo của WB./.
|
Ông Nguyễn Cẩm Tú - Thứ trưởng Bộ Công thương: Cơ hội và thách thức đan xen
Bà Phạm Chi Lan - chuyên gia cao cấp: 5 điểm yếu của DN Việt Nam
TS Võ Trí Thành - Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TƯ (CIEM): Ba bài học của Việt Nam
Thành Huy ghi |


