ADB dự báo Việt Nam tăng trưởng 4,5% trong năm nay
Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) ngày 31/3 nhận định, bất chấp những tác động bất lợi của suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn có thể đạt mức tăng trưởng vừa phải: khoảng 4,5% trong năm nay, và 6,5% trong năm 2010.
Tuy nhiên tại buổi công bố Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á 2009 sáng nay (31/3), chuyên gia kinh tế của ADB, ông Bahodir Ganiev nhấn mạnh, các con số dự báo này hoàn toàn có thể thay đổi khi những tham số căn cứ để dự báo thay đổi.
Ông Ganiev giải thích, hiện mức độ và thời gian suy thoái của kinh tế toàn cầu là không rõ ràng nên khó xác định được những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, rất có thể Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục đưa ra các gói kích thích bổ sung, cũng như các biện pháp khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Vậy nên rất có thể con số dự đoán của ADB sẽ cao hơn nữa trong thời gian tới.
Ông Ayumi Konishi, giám đốc ADB tại Việt Nam cho rằng: “Thách thức trong ngắn hạn đối với Việt Nam là phải hạn chế sự tăng trưởng chậm, trong khi vẫn phải kiểm soát được thâm hụt ngân sách và tài khoản vãng lai. Chính phủ Việt Nam cần đẩy mạnh các cải cách kinh tế và mở cửa hơn nữa nền kinh tế theo các cam kết với WTO, nhằm bảo đảm lòng tin của các nhà đầu tư và công chúng. Những chính sách này sẽ bảo đảm dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục chảy vào Việt Nam”.
|
Nếu dự báo chung cho khu vực Đông Nam Á chỉ là 0,7%, mức thấp nhất so với các khu vực khác của châu Á, thì Việt Nam vẫn nhận được dự báo lạc quan, với mức tăng trưởng 4,5% năm 2009. Trong khi đó, nền kinh tế Singapore được dự báo tồi tệ nhất, với mức tăng trưởng -5%, Thái Lan -2%, Brunei -0,4% và Malaysia -0,2% trong năm nay. ADB dự báo: sang 2010 Việt Nam sẽ có mức tăng trưởng dẫn đầu khu vực ASEAN, đạt 6,5%. |
Báo cáo của ADB cũng nhận định, lạm phát bình quân năm 2009 sẽ giảm xuống mức 4,0% do giá cả hàng hóa thế giới dự kiến sẽ thấp hơn nhiều so với năm ngoái. Lạm phát sẽ tăng lên mức 5,0% năm 2010 do chính sách tiền tệ nới lỏng, giá cả hàng hóa thế giới tăng nhẹ cùng sự phục hồi tăng trưởng.
Đặc biệt, ADB vẫn rất lạc quan về tình hình kinh tế trung hạn của Việt Nam. Báo cáo của ADB viết: “Tăng trưởng GDP nhiều khả năng sẽ hồi phục ở mức 7 - 7,5% do dòng vốn FDI chảy vào mạnh. Việt Nam vẫn là một điểm đến hấp dẫn cho FDI, mặc dù Việt Nam đã trải qua những bất ổn kinh tế vĩ mô trong năm 2008 và phải đối mặt với những khó khăn kinh tế trong ngắn hạn”.
Trên thực tế, những cam kết FDI mới đã tăng hơn gấp 3 lần trong năm 2008, từ mức 20,3 tỷ USD năm 2007 lên mức 64 tỷ USD. Mặc dù dòng vốn FDI thực tế được dự đoán sẽ giảm trong năm nay, nhưng dự kiến sẽ phục hồi trong năm 2010 và tiếp tục tăng trong trung hạn. Quyết định của Chính phủ vào tháng 10-2008 cho phép tư nhân hóa toàn bộ một số doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt thông qua việc bán chúng cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhiều khả năng sẽ thúc đẩy dòng vốn FDI chảy mạnh hơn nữa.
ADB cũng đưa ra khuyến nghị, điều quan trọng là Chính phủ Việt Nam phải duy trì sự cân bằng giữa thúc đẩy tăng trưởng với việc giữ thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách ở mức kiểm soát được, khi cố gắng khắc phục những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Để đạt được sự cân bằng này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải thận trọng khi áp dụng những biện pháp kích thích tài chính bổ sung, và tránh chi tiêu vào những dự án đầu tư nhà nước có hiệu suất thu hồi thấp.
Theo ADB, Chính phủ Việt Nam cần tập trung ưu tiên vào những hỗ trợ xã hội cho người nghèo và người thất nghiệp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các ngành sản xuất có định hướng xuất khẩu. Chính phủ cũng cần xem xét để có những nỗ lực hơn nữa trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án FDI và đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức. Tăng thêm tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái sẽ giúp ngăn ngừa những kỳ vọng về một sự phá giá đột ngột có thể xảy ra do thâm hụt lớn tài khoản vãng lai. Chính phủ cũng cần loại bỏ những trở ngại về cơ sở hạ tầng, cải thiện khuôn khổ luật pháp và quy định đối với sự phát triển của khu vực tư nhân, củng cố quản lý nhà nước và tăng nguồn cung lao động có kỹ năng./.