Bài 2: Vinashin và bài học giám sát, quản lý
Sự cố Vinashin cần rút ra những bài học kinh nghiệm để các tập đoàn kinh tế, tổng công ty khác của Nhà nước không đi vào “vết xe đổ”…
Bài 1: Con tàu Vinashin đã “mắc cạn” thế nào?
Bài học thứ nhất: Vấn đề phân cấp
Có thể nói, thẩm quyền giao cho một số tập đoàn hiện nay quá lớn. Người ta đã nhắc đến một thực tế là Vinashin được trao quyền quá lớn khi cơ quan chức năng phát hiện Tập đoàn này mua sắm, đầu tư tài chính tràn lan, chẳng hạn như mua con tàu Hoa Sen trị giá tới 1.300 tỷ đồng để rồi đắp chiếu, hoặc đầu tư cổ phiếu, cổ phần tới hàng nghìn tỷ đồng.
Trước hết, cần làm rõ những kẽ hở trong quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước. Dẫu biết, là thí điểm, nhưng tập đoàn kinh tế Nhà nước được “thành lập” và hoạt động mà không có một khung pháp lý chuẩn mực điều chỉnh. Do đó, nó đã và đang là một “tổ chức kinh tế siêu quyền lực”, Chủ tịch Tập đoàn có quá nhiều quyền. Đây là nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến sự sụp đổ của Vinashin. Vì vậy, cần cấp thiết xem xét lại một cách toàn diện về việc thành lập và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước.
![]() |
Trong một tương lai gần, chuyên gia tài chính cao cấp Bùi Kiến Thành cho rằng, phải thay đổi trong tư duy bổ nhiệm nhân sự giám sát phần vốn Nhà nước tại các tập đoàn: “Đã đến lúc phải thay đổi cách tham gia hội đồngg quản trị trong việc mời gọi các chuyên gia có kinh nghiệm để giám sát việc làm của các Tổng giám đốc. Việc giám sát cũng không để xảy ra tình trạng giám sát theo kiểu bao che cho nhau, Quốc hội phải làm đến cùng trong việc phát hiện các vấn đề trong giám sát tập đoàn…”
Bài học thứ 2: Công tác quản lý vốn đầu tư
Rõ ràng, vốn chủ sở hữu của Vinashin là quá nhỏ so với quy mô và phạm vi đầu tư mà Tập đoàn này thực hiện. Điều đáng nói là Tập đoàn này đã vay thương mại với số lượng quá lớn để đầu tư trung, dài hạn là mạo hiểm và rủi ro.
Đó là chưa nói đến việc Tập đoàn này đã đầu tư quá dàn trải và không hiệu quả. Từ năm 2005 cho đến trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào đầu 2008, danh mục các dự án đầu tư của Vinashin đã lên đến con số 257, với tổng kinh phí hơn 50.000 tỷ đồng. Số tiền này không nhỏ, nhưng do dàn trải, nên rất nhiều trong số đó không được cấp đủ số vốn cần thiết. Tới nay, hơn 3/4 số dự án vẫn còn dở dang. Một bài học cần rút ra là chống đầu tư dàn trải, không chỉ là hạn chế đầu tư ra ngoài ngành mà cả đầu tư trong ngành cũng phải tập trung, đồng thời cân đối giữa năng lực, trình độ quản lý và quy mô, phạm vi đầu tư.
Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Quang A nhìn nhận bài học từ Vinashin từ góc nhìn khác: “Có 2 vấn đề rất cơ bản, thứ nhất là trình độ quản lý không kịp với quy mô, một người có sức quản lý độ khoảng 100 người, nhưng vống lên quản lý mấy chục nghìn người, hay nói cách khác, khả năng quản lý được vốn 50 triệu USD mà vống lên quản lý 4 – 5 tỷ USD. Tức là sự hiểu biết con người với quy mô thực làm có độ vênh rất lớn. Điểm thứ hai là lý thuyết đại diện, tức là người chủ uỷ quyền cho những người đại diện của mình. Người được uỷ quyền sẽ luôn luôn có động cơ để không làm theo mục đích của người uỷ quyền. Công ty càng lớn, người chủ càng vô hình bao nhiêu thì mức độ vênh giữa quyền lợi của hai bên càng vênh nhau lên”.
Bài học thứ 3: Cung cách quản lý, giám sát các tập đoàn của cơ quan chức năng.
Từ Vinashin có thể thấy các cơ quan quản lý đã gần như bị động và luôn trong trạng thái không theo kịp với mỗi bước đi của Tập đoàn này. Vinashin đã đầu tư một cách thoải mái với nhiều siêu dự án, gồm cả vốn tự có, cả vay nợ trong nước và nước ngoài.
Trong khi năng lực quản lý của cả cơ quan quản lý và lãnh đạo Tập đoàn bất cập, Tập đoàn lại mở rộng quá mức hoạt động đã gây ra những lỗ hổng nguy hiểm liên quan đến vấn đề quản lý đầu tư, công nợ, dòng tiền... càng làm cho Vinashin nhanh chóng đi đến bờ vực nợ nần chồng chất. Có thể nói sự đổ vỡ của con tàu Vinashin có phần trách nhiệm quản lý, giám sát của các bộ ngành. Từ năm 2006 đến hết năm 2009, đã có 11 cuộc thanh tra, kiểm tra kiểm toán, giám sát đối với Vinashin, có chỉ ra những mặt được, chưa được, chưa đúng và đã có yêu cầu Tập đoàn khắc phục, chấn chỉnh nhưng lãnh đạo Tập đoàn không nghiêm túc chấp hành. Điều đáng nói là chúng ta có nhiều cuộc thanh tra, nhưng mỗi cuộc lại chỉ thanh tra một hoặc vài lĩnh vực mà chưa có cái nhìn tổng thể, từ đó bức tranh toàn cảnh Vinashin không thể rõ ràng.
Theo Tiến sĩ Trần Hữu Huỳnh, Trưởng Ban Pháp chế- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam - VCCI, điều quan trọng là chúng ta cần phải có những bước đi tiếp để tạo ra một cơ chế giám sát nội bộ của các tập đoàn, doanh nghiệp Nhà nước trước. Tiếp đó là tổ chức triển khai giám sát của đại diện chủ sở hữu vốn tại tập đoàn và doanh nghiệp Nhà nước: “Có một đội quản trị doanh nghiệp tốt để các thành tố trong đó giám sát lẫn nhau và quy trình đó phải được công khai và minh bạch. Thứ hai, có cơ chế để thực hiện quy trình đó đồng thời kiểm tra quy trình đó thực hiện có đúng không. Thứ ba là nói đến con người trong nội bộ… Phải có bộ máy chuyên nghiệp làm chức năng đại diện phần vốn chủ sở hữu và làm nhiệm vụ đem tiền của Nhà nước đi đầu tư. Như vậy để giám sát tốt thì cách quản lý của Nhà nước hiện nay cũng phải thay đổi”.
Trong khi đó, Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong nhìn nhận việc giám sát tập đoàn là phải tạo một thiết chế chuyên giám sát các tập đoàn Nhà nước, trong đó chú ý đến yếu tố độc lập của cơ quan giám sát chuyên trách: “Công tác giám sát phải được thực hiện một cách độc lập, tránh hiện tượng chính đơn vị chủ quản là người vừa ra quyết định đầu tư cho doanh nghiệp vừa là người đi giám sát. Như vậy nhiều lúc sẽ bị chi phối bởi chính bản thân người ra quyết định. Khi người ra quyết định sai thì sẽ không cử người đi giám sát cái sai của mình. Cần đa dạng hoá các dạng kênh giám sát đối với khu vực kinh tế này. Ví dụ, ngoài giám sát Nhà nước còn có giám sát của báo chí, giám sát của các hoạt động thanh tra độc lập khác…”.
Xét cho cùng, đa phần các tập đoàn hiện nay là thuộc sở hữu Nhà nước, nghĩa là thuộc sở hữu toàn dân. Vì thế sự công khai minh bạch, sự giám sát cần phải nghiêm khắc hơn cả các công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán. Giáo sư Trần Ngọc Thơ, Trường Đại học Kinh tế TP HCM đặt vấn đề, Chính phủ cần phải buộc các tập đoàn, các doanh nghiệp Nhà nước tiến hành các chương trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế.
Tiến sĩ Trần Hữu Huỳnh tâm đắc với câu chuyện tăng cường vai trò và trách nhiệm của Quốc hội và hiệu quả của sự đa dạng các kênh giám sát, trong đó có cả báo chí: “Quốc hội với tư cách là người quản lý toàn bộ phần vốn của toàn dân, thực hiện giám sát trong hệ thống Nhà nước. Còn giám sát bên ngoài thì cơ quan báo chí truyền thông là kênh giám sát hiệu quả của các doanh nghiệp”.
Thêm một lần nữa, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước cần phải có sự xác định một cách chính xác hơn. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng kiến nghị: “Theo tôi, nếu nói kinh tế Nhà nước là chủ đạo thì đúng, kinh tế Nhà nước ở đây là lực lượng Nhà nước bao gồm những chính sách, thể chế kinh tế được đưa ra, những nguồn lực kinh tế mà Nhà nước đang kiểm soát, nắm giữ, được điều tiết bằng các chính sách khác nhau. Chứ không phải biến doanh nghiệp Nhà nước là chủ đạo hoặc là tập đoàn kinh tế là chủ đạo”./.
Bài 3: Tái cơ cấu Vinashin- diện mạo mới thế nào?
